Suy niệm Lời Chúa

THỨ SÁU TUẦN THÁNH.


 

Thứ Sáu: Ga 18, 1 - 19, 42

Thứ Sáu 07/04/2023 – Thủ phạm giết Chúa.

07/04 – THỨ SÁU TUẦN THÁNH. KỶ NIỆM CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA.

"Sự Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".

 

Lời Chúa: Ga 18, 1 - 19, 42

C: Người đọc Chung, Thánh Sử; S: Người đối thoại khác, hoặc Cộng đoàn. J: Chúa Giêsu

C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Gioan.

 

Khi ấy, Chúa Giêsu đi với môn đệ sang qua suối Xêrông, ở đó có một khu vườn, Người vào đó cùng với các môn đệ. Giuđa, tên phản bội, đã biết rõ nơi đó, vì Chúa Giêsu thường đến đấy với các môn đệ. Nên Giuđa dẫn tới một toán quân cùng với vệ binh do các thượng tế và biệt phái cấp cho, nó đến đây với đèn đuốc và khí giới. Chúa Giêsu đã biết mọi sự sẽ xảy đến cho Mình, nên Người tiến ra và hỏi chúng: J. "Các ngươi tìm ai?" C. Chúng thưa lại: S. "Giêsu Nadarét". C. Chúa Giêsu bảo: "Ta đây". C. Giuđa là kẻ định nộp Người cũng đứng đó với bọn chúng. Nhưng khi Người vừa nói "Ta đây", bọn chúng giật lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi chúng: J. "Các ngươi tìm ai?" C. Chúng thưa: S. "Giêsu Nadarét". C. Chúa Giêsu đáp lại: "Ta đã bảo các ngươi rằng Ta đây! Vậy nếu các ngươi tìm bắt Ta, thì hãy để cho những người này đi". C. Như thế là trọn lời đã nói: "Con chẳng để mất người nào trong những kẻ Cha đã trao phó cho Con". Bấy giờ Simon Phêrô có sẵn thanh gươm, liền rút ra đánh tên đầy tớ vị thượng tế, chém đứt tai bên phải. Đầy tớ ấy tên là Mancô. Nhưng Chúa Giêsu bảo Phêrô rằng: J. "Hãy xỏ gươm vào bao. Chén Cha Ta đã trao lẽ nào Ta không uống!" C. Bấy giờ, toán quân, trưởng toán và vệ binh của người Do-thái bắt Chúa Giêsu trói lại, và điệu Người đến nhà ông Anna trước, vì ông là nhạc phụ của Caipha đương làm thượng tế năm ấy. Chính Caipha là người đã giúp ý kiến này cho người Do-thái: để một người chết thay cho cả dân thì lợi hơn. Còn Phêrô và môn đệ kia vẫn theo Chúa Giêsu. Môn đệ sau này quen vị thượng tế nên cùng với Chúa Giêsu vào trong sân vị thượng tế, còn Phêrô đứng lại ngoài cửa. Vì thế, môn đệ kia là người quen với vị thượng tế, nên đi ra nói với người giữ cửa và dẫn Phêrô vào. Cô nữ tì gác cửa liền bảo Phêrô: S. "Có phải ông cũng là môn đệ của người đó không?" C. Ông đáp: S. "Tôi không phải đâu".

C. Đám thủ hạ và vệ binh có nhóm một đống lửa và đứng đó mà sưởi vì trời lạnh, Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế hỏi Chúa Giêsu về môn đệ và giáo lý của Người. Chúa Giêsu đáp: J. "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ, Tôi thường giảng dạy tại hội đường và trong đền thờ, nơi mà các người Do-thái thường tụ họp, Tôi không nói chi thầm lén cả. Tại sao ông lại hỏi Tôi? Ông cứ hỏi những người đã nghe Tôi về những điều Tôi đã giảng dạy. Họ đã quá rõ điều Tôi nói". C. Nghe vậy, một tên vệ binh đứng đó vả mặt Chúa Giêsu mà nói: S. "Anh trả lời vị thượng tế như thế ư". C. Chúa Giêsu đáp: J. "Nếu Ta nói sai, hãy chứng minh điều sai đó; mà nếu Ta nói phải, thì tại sao anh lại đánh Ta?" C. Rồi Anna cho giải Người vẫn bị trói đến cùng vị thượng tế Caipha. Lúc ấy Phêrô đang đứng sưởi. Họ bảo ông: S. "Có phải ông cũng là môn đệ người đó không?" C. Ông chối và nói: S. "Tôi không phải đâu". C. Một tên thủ hạ của vị thượng tế, có họ với người bị Phêrô chém đứt tai, cãi lại rằng: S. "Tôi đã chẳng thấy ông ở trong vườn cùng với người đó sao?" C. Phêrô lại chối nữa, và ngay lúc đó gà liền gáy.

Bấy giờ họ điệu Chúa Giêsu từ nhà Caipha đến pháp đình. Lúc đó tảng sáng và họ không vào pháp đình để khỏi bị nhơ bẩn và để có thể ăn Lễ Vượt Qua. Lúc ấy Philatô ra ngoài để gặp họ và nói: S. "Các ngươi tố cáo người này về điều gì". C. Họ đáp: S. "Nếu hắn không phải là tay gian ác, chúng tôi đã không nộp cho quan". C. Philatô bảo họ: S. "Các ông cứ bắt và xét xử theo luật của các ông". C. Nhưng người Do-thái đáp lại: S. "Chúng tôi chẳng có quyền giết ai cả". C. Thế mới ứng nghiệm lời Chúa Giêsu đã nói trước: Người sẽ phải chết cách nào. Bấy giờ Philatô trở vào pháp đình gọi Chúa Giêsu đến mà hỏi: S. "Ông có phải là Vua dân Do-thái không?" C. Chúa Giêsu đáp: J. "Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?" C. Philatô đáp: S. "Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?" C. Chúa Giêsu đáp: J. "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng nước tôi không thuộc chốn này". C. Philatô hỏi lại: S. "Vậy ông là Vua ư?" C. Chúa Giêsu đáp: J. "Quan nói đúng: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng tôi". C. Philatô bảo Người: S. "Chân lý là cái gì?" C. Nói lời này xong, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ: S. "Ta không thấy nơi người này có lý do để khép án. Nhưng theo tục lệ các ngươi, ta sẽ phóng thích cho các ngươi một tù nhân vào dịp Lễ Vượt Qua. Vậy các ngươi có muốn ta phóng thích Vua Do-thái cho các ngươi chăng?" C. Họ liền la lên: S. "Không phải tên đó, nhưng là Baraba". C. Baraba là một tên cướp. Bấy giờ Philatô truyền đem Chúa Giêsu đi mà đánh đòn Người. Binh sĩ kết một triều thiên bằng gai nhọn đội lên đầu Người và nói: S. "Tâu Vua Do-thái!" C. Và vả mặt Người. Philatô lại ra ngoài và nói: S. "Đây ta cho dẫn người ấy ra ngoài cho các ngươi để các ngươi biết rằng ta không thấy nơi người ấy một lý do để kết án". C. Bấy giờ Chúa Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo đỏ. Philatô bảo họ: S. "Này là Người". C. Vừa thấy Người, các thượng tế và vệ binh liền la to: S. "Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng đinh nó vào thập giá!" C. Philatô bảo họ: S. "Đấy các ngươi cứ bắt và đóng đinh ông vào thập giá, phần ta, ta không thấy lý do nào kết tội ông". C. Người Do-thái đáp lại: S. "Chúng tôi đã có luật, và theo luật đó nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Thiên Chúa". C. Nghe lời đó Philatô càng hoảng sợ hơn. Ông trở vào pháp đình và nói với Chúa Giêsu: S. "Ông ở đâu đến?"

C. Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại câu nào. Bấy giờ Philatô bảo Người: S. "Ông không nói với ta ư? Ông không biết rằng ta có quyền đóng đinh ông vào thập giá và cũng có quyền tha ông sao?" C. Chúa Giêsu đáp: J. "Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho, vì thế nên kẻ nộp tôi cho quan, mắc tội nặng hơn". C. Từ lúc đó Philatô tìm cách tha Người. Nhưng người Do-thái la lên: S. "Nếu quan tha cho nó, quan không phải là trung thần của Xêsa, vì ai xưng mình là vua, kẻ đó chống lại Xêsa". C. Philatô vừa nghe lời đó, liền cho điệu Chúa Giêsu ra ngoài rồi ông lên ngồi toà xử, nơi gọi là Nền đá, tiếng Do-thái gọi là Gabbatha. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu ngày chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Philatô bảo dân: S. "Đây là vua các ngươi". C. Nhưng họ càng la to: S. "Giết đi! Giết đi! Đóng đinh nó đi!" C. Philatô nói: S. "Ta đóng đinh vua các ngươi ư?" C. Các thượng tế đáp: S. "Chúng tôi không có vua nào khác ngoài Xêsa". C. Bấy giờ quan giao Người cho họ đem đóng đinh.

Vậy họ điệu Chúa Giêsu đi. Và chính Người vác thập giá đến nơi kia gọi là Núi Sọ, tiếng Do-thái gọi là Golgotha. Ở đó họ đóng đinh Người trên thập giá cùng với hai người khác nữa: mỗi người một bên, còn Chúa Giêsu thì ở giữa. Philatô cũng viết một tấm bảng và sai đóng trên thập giá. Bảng mang những hàng chữ này: "Giêsu, Nadarét, vua dân Do-thái". Nhiều người Do-thái đọc được bảng đó, vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh thì gần thành phố, mà bảng viết thì bằng tiếng Do-thái, Hy-lạp và La-tinh. Vì thế các thượng tế đến thưa với Philatô:

S. Xin đừng viết "Vua dân Do Thái", nhưng nên viết: "Người này đã nói: 'Ta là vua dân Do-thái'". C. Philatô đáp: S. "Điều ta đã viết là đã viết". C. Khi quân lính đã đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá rồi thì họ lấy áo Người chia làm bốn phần cho mỗi người một phần, còn cái áo dài là áo không có đường khâu, đan liền từ trên xuống dưới. Họ bảo nhau: S. "Chúng ta đừng xé áo này, nhưng hãy rút thăm xem ai được thì lấy". C. Hầu ứng nghiệm lời Kinh Thánh: "Chúng đã chia nhau các áo Ta và đã rút thăm áo dài của Ta". Chính quân lính đã làm điều đó.

Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, lúc đó có Mẹ Người, cùng với chị Mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas và Maria Mađalêna. Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng Mẹ rằng: J. "Hỡi Bà, này là con Bà". C. Rồi Người lại nói với môn đệ: J. "Này là Mẹ con". C. Và từ giờ đó môn đệ đã lãnh nhận Bà về nhà mình. Sau đó, vì biết rằng mọi sự đã hoàn tất, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, Chúa Giêsu nói: J. "Ta khát!" C. Ở đó có một bình đầy dấm. Họ liền lấy miếng bông biển thấm đầy dấm cắm vào đầu ngành cây hương thảo đưa lên miệng Người. Khi đã nếm dấm rồi, Chúa Giêsu nói: J. "Mọi sự đã hoàn tất". C. Và Người gục đầu xuống trút hơi thở cuối cùng.

 

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

 

Hôm đó là ngày chuẩn bị lễ: để tội nhân khỏi treo trên thập giá trong ngày Sabbat, vì ngày Sabbat là ngày đại lễ, nên người Do-thái xin Philatô cho đánh dập ống chân tội nhân và cho cất xác xuống. Quân lính đến đánh dập ống chân của người thứ nhất và người thứ hai cùng chịu treo trên thập giá với Người. Nhưng lúc họ đến gần Chúa Giêsu, họ thấy Người đã chết, nên không đánh dập ống chân Người nữa, tuy nhiên một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy ra. Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng, mà lời chứng của người đó chân thật, và người đó biết rằng mình nói thật để cho các người cũng tin nữa. Những sự việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: "Người ta sẽ không đánh dập một cái xương nào của Người". Lời Kinh Thánh khác rằng: "Họ sẽ nhìn xem Đấng họ đã đâm thâu qua".

Sau đó, Giuse người xứ Arimathia, môn đệ Chúa Giêsu, nhưng thầm kín vì sợ người Do-thái, xin Philatô cho phép cất xác Chúa Giêsu. Philatô cho phép. Và ông đến cất xác Chúa Giêsu. Nicôđêmô cũng đến, ông là người trước kia đã đến gặp Chúa Giêsu ban đêm. Ông đem theo chừng một trăm cân mộc dược trộn lẫn với trầm hương. Họ lấy xác Chúa Giêsu và lấy khăn bọc lại cùng với thuốc thơm theo tục khâm liệm người Do-thái. Ở nơi Chúa chịu đóng đinh có cái vườn và trong vườn có một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai. Vì là ngày chuẩn bị lễ của người Do-thái và ngôi mộ lại rất gần, nên họ đã mai táng Chúa Giêsu trong mộ đó.

 

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

Lời Chúa: Is 52,13 - 53,12; Dt 4, 14-16; 5, 7-9; Ga 18,1 - 19,42 (bài ngắn: Mt 27,11-54)

 

MỤC LỤC

 

 

1.    Thế là đã hoàn tất--Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ. PAGEREF _Toc130996808 \h 3

2.    Thập giá là ngai Vua Giêsu tình yêu hiển thắng--TGM Giuse Nguyễn Năng. PAGEREF _Toc130996809 \h 4

3.    “Thập giá của Chúa – Thập giá của tôi”--Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên. PAGEREF _Toc130996810 \h 5

4.    Suy tôn Thánh Giá--GM Phêrô Nguyễn Văn Khảm.. PAGEREF _Toc130996811 \h 6

5.    Chúa Giêsu chủ động bước vào cuộc thụ nạn--Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái PAGEREF _Toc130996812 \h 7

6.    Người đã chết vì tôi--Lm Giuse Đinh Lập Liễm.. PAGEREF _Toc130996813 \h 7

7.    Cái chết của Chúa -- Ga 18,1-19,42--Lm Giuse Đinh Tất Quý. PAGEREF _Toc130996814 \h 8

8.    Nhìn ngắm Thánh Giá, khám phá tình yêu--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ. PAGEREF _Toc130996815 \h 10

9.    Thiên Chúa là Tình Yêu-- Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ. PAGEREF _Toc130996816 \h 11

10. Câu chuyện tình yêu--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ. PAGEREF _Toc130996817 \h 12

11. Cái Chết Cứu Chuộc--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ. PAGEREF _Toc130996818 \h 13

12. Thành tâm sám hối và quyết tâm theo Chúa--Lm Đan Vinh. PAGEREF _Toc130996819 \h 14

13. Chấp nhận hy sinh chịu chết trên Thập Giá vì yêu thương--Lm Đan Vinh. PAGEREF _Toc130996820 \h 15

14. Thánh Giá Chúa Giêsu-Chiên Vượt Qua--Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ. PAGEREF _Toc130996821 \h 16

15. Thập Giá Đức Kitô--‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’ PAGEREF _Toc130996822 \h 17

16. Lạy Chúa, chúng con thờ lạy Thánh Giá Chúa!--ÐTC Gioan Phaolô II. PAGEREF _Toc130996823 \h 17

17. Sống cao đẹp, chết không cùng--Lm. Jos Tạ Duy Tuyền. PAGEREF _Toc130996824 \h 18

18. Người chết vì yêu--Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. PAGEREF _Toc130996825 \h 19

19. Tiếng nói của tình yêu thương--Lm. Giuse Đỗ Đức Trí PAGEREF _Toc130996826 \h 20

20. Suy niệm thứ sáu tuần thánh--Lm. Giuse Trực. PAGEREF _Toc130996827 \h 22

21. Buổi chiều thinh lặng thánh--Jos. Vinc. Ngọc Biển SSP.. PAGEREF _Toc130996828 \h 22

22. Nghịch lý của Thánh Giá--Jos. Vinc. Ngọc Biển SSP.. PAGEREF _Toc130996829 \h 24

23. Đường thập giá--Tâm Thương. PAGEREF _Toc130996830 \h 25

24. Cây Thập Giá nặng nề nhưng hiển vinh--Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh. PAGEREF _Toc130996831 \h 27

25. Thập giá tình yêu - JB. Lê Đình Nam.. PAGEREF _Toc130996832 \h 27

26. Thập giá Chúa Kitô--Lm. Giuse Tạ Minh Chiến. PAGEREF _Toc130996833 \h 28

27. Đức Giêsu khó thở trên Thập giá—Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ. PAGEREF _Toc130996834 \h 29

28. Sức mạnh nơi khổ đau--Lm. DĐH. PAGEREF _Toc130996835 \h 30

29. Chiến thắng đau khổ--Lm. Jos. DĐH.. PAGEREF _Toc130996836 \h 31

30. Đỉnh đồi thương xót--Trầm Thiên Thu. PAGEREF _Toc130996837 \h 31

31. Giờ thương xót--Trầm Thiên Thu. PAGEREF _Toc130996838 \h 35

32. Bạc như vôi--P.Trần Đình Phan Tiến. PAGEREF _Toc130996839 \h 39

33. Trao hiến vì yêu thương--Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty. PAGEREF _Toc130996840 \h 40

34. Tình yêu cao vời--Lm. Inhaxiô Trần Ngà. PAGEREF _Toc130996841 \h 41

35. Nơi Thánh Giá, Thiên Chúa trao tình yêu--Lm. JB Nguyễn Minh Hùng. PAGEREF _Toc130996842 \h 42

36. Thủ phạm giết Chúa. PAGEREF _Toc130996843 \h 43

37. Đón nhận đau khổ. PAGEREF _Toc130996844 \h 44

38. Người tôi tớ--Huệ Minh. PAGEREF _Toc130996845 \h 46

 

 

1.     Thế là đã hoàn tất--Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ

Vào Chúa nhật Lễ Lá chúng ta đã nghe đọc bài Thương Khó

trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm.

Vào thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta luôn nghe đọc bài Thương Khó theo Gioan.

Thánh Gioan kể lại cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu với những nét riêng của ông.

Chúng ta trân trọng cái nhìn bổ sung của thánh Gioan cho những Tin Mừng khác.

Trong cuộc Khổ Nạn, Đức Giêsu của Gioan tỏ ra là người chủ động.

Ngài biết trước các biến cố sắp xảy ra, và Ngài có quyền năng làm chủ mọi sự.

Chính Ngài tiến ra và hỏi các kẻ đến bắt Ngài: “Các anh tìm ai?”

Câu trả lời của Ngài đủ làm họ lùi lại và ngã xuống đất (18, 4-9).

Đức Giêsu bình an và uy nghiêm bước vào cuộc Khổ nạn,

vì Ngài đã chấp nhận chén đắng Cha trao (18, 11).

Khi bị vị thượng tế Khanna tra hỏi về giáo huấn,

chẳng chút sợ hãi, Ngài đã thẳng thắn từ chối trả lời (18, 19-21).

Khi bị vả mặt, Ngài cũng đòi kẻ xúc phạm Ngài phải nói rõ tại sao (18, 23).

Đức Giêsu bị đem tới dinh tổng trấn Philatô lúc trời đã sáng.

Philatô là người xét xử Đức Giêsu, nhưng có vẻ ông là người bị động.

Ông bị giằng co giữa một bên là Đức Giêsu đang ở trong dinh,

bên kia là đám đông và các nhà lãnh đạo Do thái giáo đang ở ngoài dinh.

Một bên là ông Giêsu mà ông không tìm thấy lý do nào để kết tội (18, 38; 19, 4. 6).

Bên kia là chức tổng trấn và chức “Bạn của Xêda” mà ông đang nắm giữ (19, 12).

Philatô không biết phải theo ai, chọn ai trong tình cảnh căng thẳng này.

Vì thế ông đã đi ra, đi vào cả thảy bảy lần (18, 18, 29. 33. 38; 19, 1. 4. 9. 13).

Đức Giêsu đã đối thoại khá dài với Philatô về Nước của Ngài (18, 36-37),

một nước không có trên bản đồ, không có quân đội, không dùng bạo lực.

Nước của Ngài gồm những người biết nghe sự thật và đứng về phía sự thật,

sự thật này được Ngài làm chứng và cất tiếng nói lên.

“Đây là Vua các người”, Philatô đã giới thiệu Đức Giêsu như thế (19, 14)

và ông đã cương quyết giữ lại tấm bảng treo trên thập giá mang dòng chữ:

“Giêsu Nadarét, Vua dân Do thái” (19, 19).

Đức Giêsu đã tự mình vác thập giá lên đồi Sọ và bị đóng đinh vào giữa trưa.

Chiên Thiên Chúa bị giết đúng vào lúc ở Đền Thờ người ta giết chiên Vượt qua.

Đức Giêsu không cô đơn trên thập giá vì có Mẹ và người môn đệ dấu yêu.

Suốt một đời Ngài đã sống cho sứ mạng Cha trao, nay Ngài biết nó đã hoàn tất.

Chủ động cả trong cái chết, Ngài “gục đầu xuống và trao Thần Khí” (19, 30).

Qua cái chết trên thập giá, Đức Giêsu cho thấy tình yêu lớn nhất của Ngài (15, 13),

tình yêu trao hiến cả Máu và Nước từ trái tim bị đâm thâu (19, 34).

Nhưng thập giá cũng cho thấy tình yêu của Cha khi ban Con Một cho ta (3, 16).

Đức Giêsu Kitô đã trở về với Cha bằng con đường khó đi.

Người Kitô hữu cũng về với Thiên Chúa bằng con đường hẹp.

Ước gì chúng ta sống cuộc Khổ nạn của mình với sự bình an, can đảm của Giêsu.

 

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,

vì Chúa đã bẻ tấm bánh trao cho chúng con,

xin cho những người nghèo khổ được no đủ.

Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Dầu,

xin cho các bạn trẻ đủ sức đối diện

với những khó khăn gay gắt của cuộc sống.

Vì Chúa bị kết án bất công,

xin cho chúng con can đảm bênh vực sự thật.

Vì Chúa bị làm nhục và nhạo báng,

xin cho phụ nữ và trẻ em được tôn trọng.

Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề,

xin cho những người bệnh tật được đỡ nâng.

Vì Chúa bị lột áo và đóng đinh,

xin cho sự hiền hòa thắng được bạo lực.

Vì Chúa dang tay chết trên thập giá,

xin cho đất nối lại với trời,

con người nối lại mối dây liên đới với nhau.

Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui òa vỡ,

xin cho chúng con biết đón lấy đời thường

với tâm hồn thanh thản bình an. Amen.

 

2.     Thập giá là ngai Vua Giêsu tình yêu hiển thắng--TGM Giuse Nguyễn Năng

Sứ điệp: Thập giá Chúa Giêsu không phải là dấu hiệu của sự thất bại tủi nhục mà là biểu hiện của toàn thắng vinh quang. Thập giá là ngai tòa Vua Giêsu tình yêu hiển thắng trong sứ mệnh cứu độ nhân loại.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, đối với người không có niềm tin thì Thập giá tiêu biểu cho một hình thức khổ đau thật nhục nhã, và rao giảng về Thập giá là sự điên rồ. Chính con mỗi lần đối diện với Thập giá cuộc đời, trí khôn như muốn nổ tung và lòng như muốn khăng khăng chối từ.

Nhưng hôm nay, nhờ mầu nhiệm Chúa chịu chết trên Thánh giá, Chúa đã đem lại cho khổ đau Thập giá một giá trị tuyệt vời: giá trị cứu độ trần gian. Vâng, Thánh giá là đỉnh cao của con đường cứu độ, là tiếng nói vĩ đại của lời yêu thương tha thứ tội lỗi nhân loại, là chặng đường Chúa đã đi để phục sinh một con người mới, một dân tộc mới. Con đường khổ đau Thánh giá mà Chúa đã đi trở thành lời mời gọi con bước theo: “Ai muốn theo sau Ta thì hãy từ bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá của mình mỗi ngày mà theo Ta”.

Vâng, con đường mà Chúa đã đi làm rõ nét thêm Lời Chúa đã thưa khi nhập thể: “Này con xin đến để thi hành Thánh Ý Cha”, và lời thưa trên thánh giá: “Mọi sự đã hoàn tất”. Như vậy, đau khổ thập giá là cái Chúa đón nhận để xin vâng sứ mệnh Chúa Cha trao phó. Con đường đau khổ thập giá còn ghi đậm nét hình bóng Tình yêu Nhập thể, Tình yêu Cứu rỗi.

Xin cho con xác tín rằng theo Chúa là từ nay cả cuộc đời con, với từng phút giây, từng biến cố vui buồn sướng khổ, là những bước chân tiến vào con đường thập giá như Chúa. Xin cho con xác tín rằng cả cuộc đời con, với những trăn trở khắc khoải cho mình và tha nhân, là sợi chỉ đang kết dệt nên ơn gọi Kitô hữu mà đỉnh cao vẫn là Thập giá của Chúa. Amen.

Ghi nhớ: Chúa Giêsu nói: “Ta khát!”.

 

3.    “Thập giá của Chúa – Thập giá của tôi”--Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Lễ nghi chiều thứ Sáu Tuần Thánh được đề nghị cử hành vào lúc 3 giờ chiều (đối với những nơi phù hợp), vì theo truyền thống, Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng trên cây thập giá vào lúc giờ thứ chín (x. Mt 27,45-46). Phụng vụ hôm nay mang màu sắc đau thương, nhưng không hoàn toàn bi thảm, vì thập giá của Đức Giêsu vừa là dụng cụ khổ hình, vừa là cờ hiệu chiến thắng.

Chúa Giêsu đã tự vác thập giá, từ dinh quan Philatô đến núi Canvê. Theo những khám phá từ tấm khăn liệm thành Turinô và những nghiên cứu sử học, thì người bị kết án tử hình phải vác cây gỗ ngang, còn cây gỗ dọc thì đóng sẵn trên đồi. Việc vác cây gỗ ngang nhằm tránh tử tội trốn thoát, đồng thời cũng là một nhục hình để trừng phạt. Truyền thống Giáo Hội diễn tả con đường thập giá của Chúa Giêsu qua 14 hình ảnh được gọi là “Mười bốn chặng đàng Thánh Giá”. Trên con đường này, nhiều biến cố đã xảy đến với Chúa Giêsu. Từ cuộc gặp gỡ với Đức Mẹ đến cuộc gặp gỡ với những người dân thành Giêrusalem. Từ  những người ghen ghét chê bai nhạo cười đến những người cảm thương và giúp đỡ. Ông Simon và bà Vêrônica là hai người  xa lạ và có địa vị thấp kém trong xã hội, lại là những người giúp Chúa, một người vác đỡ thập giá, một người lau mặt Chúa đang đầm đìa mồ hôi và máu. Trong hành trình thập giá, Chúa ngã ba lần, nhưng Người lại gượng dạy bước đi. Có lẽ, lời nguyện cùng Chúa Cha trong vườn Cây Dầu luôn vang lên trong tâm trí Chúa: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Đó là một cuộc giằng co khốc liệt giữa sự yếu đuối của con người và sự mạnh mẽ của Ngôi Hai nhập thể. Chúa Giêsu đã dứt khoát thi hành ý Chúa Cha, chấp nhận mọi nhục hình và gian nan khốn khó. Thập giá chính là bằng chứng của sự tuân phục và hy sinh của Người.

Khi chiêm ngắm Đấng chịu treo trên thập giá, tôi nhận ra Chúa Giêsu đang nhìn tôi với cái nhìn đầy yêu thương. Trong thinh lặng, Chúa nói với tôi: “Ta tha thứ mọi tội lỗi cho con”. Vì thế, chiêm ngắm Chúa trên thập giá đem lại cho tôi hạnh phúc vì thấy mình được yêu thương. Trong giáo huấn Tin Mừng, Chúa Giêsu đã dạy hãy tha thứ cho kẻ thù. Giờ đây, trên thập giá, Chúa dạy tôi bài học tha thứ. Lúc này, Người thực hiện lời giáo huấn ấy khi xin Chúa Cha tha tội cho những kẻ hành hạ mình. Biết bao lần tôi cố chấp muốn tự khẳng định vị thế của mình trong gia đình và trong xã hội. Sự cố chấp làm tôi mù quáng, không nhìn ra đâu lẽ phải, không nhận ra ai là anh em. Chúa Giêsu đã tha thứ trong lúc trái tim rướm máu. Điều đó cho thấy, để có thể tha thứ, phải chấp nhận hy sinh. Khi tha thứ, nhiều khi tôi phải chịu tiếng là hèn nhát, có khi tôi phải hạ mình và mất thanh danh. Tuy vậy, dù thế nào đi nữa, khi tôi tha thứ, chắc chắn tôi tìm được sự an bình thanh thản trong tâm hồn.

Khi chiêm ngắm Đấng chịu treo trên thập giá, tôi nhận ra Người là Con Thiên Chúa. Viên bách quan đội trưởng là người đã tham gia vào vụ hành hình Chúa. Vậy mà vào lúc Chúa tắt thở, ông ta lại nhận ra thân thế đích thật của Người và hô lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Một Thiên Chúa trần trụi, bị khinh khi, khổ nhục và chịu chết vì yêu thương con người. Thập giá dạy tôi một cách nhìn nhận mới về đau khổ: Thiên Chúa đau khổ cho con người hạnh phúc. Người chết cho con người được sống. Như vậy, nếu muốn đem lại hạnh phúc cho những người xung quanh, tôi không thể trốn tránh đau khổ. Muốn yêu Chúa Giêsu, tôi không được khước từ thập giá. Thập giá không có Chúa Giêsu chỉ là một cây gỗ vô hồn; Chúa Giêsu không có thập giá không phải là Chúa Giêsu của Đức Tin.

Khi tôi chiêm ngắm Đấng chịu đóng đinh, tôi thấy những anh chị em Kitô hữu của tôi ở nhiều nơi đang bị bách hại. Chúa nhật Lễ Lá vừa qua (29-3-2015), tại quảng trường Thánh Phêrô ở Rôma, Đức Thánh Cha Phanxicô đã kêu gọi các tín hữu trên toàn thế giới hãy cầu nguyện cho những tín hữu bị giết tại một số quốc gia trên thế giới. Họ là những thừa sai, những linh mục, tu sĩ và có nhiều tín hữu giáo dân. Họ đã chết chỉ vì một lý do đơn giản: họ là Kitô hữu. Qua Đấng chịu đóng đinh, tôi cũng nhìn thấy những mảnh đời bất hạnh, những người nghèo nàn, bệnh tật, đau khổ. Họ quằn quại trong nỗi đau của kiếp người mà chưa có lối thoát. Chúa Giêsu vẫn đang chịu đóng đinh nơi những người bất hạnh này. Thập giá là lời kêu gọi hãy ngưng bạo lực, hãy xử với nhau cho đúng phẩm giá con người và hãy liên đới nâng đỡ nhau trong cuộc sống.

“Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 32). Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu trên thập giá, tôi thấy Người mời gọi tôi hãy vươn cao, hãy sống cao thượng, hãy hướng về trời. Dù tôi yếu đuối và tội lỗi, tôi vẫn có thể vươn cao, vì Chúa lôi kéo tôi bằng sự trợ giúp thiêng liêng. Tuy vậy, vươn cao để gặp Chúa đòi hỏi nhiều hy sinh. Phải can đảm dứt bỏ những gì đang ràng buộc. “Ai theo Tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Theo Chúa Giêsu là đi trên con đường hy sinh của thập giá. Như thế, thập giá không phải một kỷ niệm vô hồn của quá khứ xa vời, nhưng là chính cuộc sống hằng ngày của tôi. Mỗi ngày sống, tôi đều có cơ hội tiếp cận thập giá, điều quan trọng là thái độ của tôi thế nào trước cây gỗ mà trên đó Con Thiên Chúa đã chịu đau đớn và đã chịu chết vì yêu tôi.

Lễ nghi chiều Thứ Sáu Tuần Thánh nhắc bảo tôi: Thập giá của Chúa cũng là thập giá của tôi. Khi  mầu nhiệm Mân Côi, thứ bốn của Năm Sự Thương, tôi cầu nguyện: xin cho tôi được vác thánh giá theo chân Chúa. Vâng, “Đây là gỗ thánh giá, nơi treo Đấng Cứu chuộc trần gian!” Tôi đến để tôn kính và thờ lạy. Tôi tin chắc Đấng đóng đinh sẽ ở bên tôi. Niềm xác tín ấy giúp tôi tìm thấy thư thái và an bình.

 

4.    Suy tôn Thánh Giá--GM Phêrô Nguyễn Văn Khảm

“Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá đi, và chúng tôi sẽ tin”. Người Do thái đã thách thức Chúa Giêsu như thế khi Người bị đóng đinh trên thập giá. Giả như chúng ta có mặt trên đồi Canvê chiều hôm ấy, liệu chúng ta có buông những lời thách thức đầy ngạo mạn ấy với Chúa Giêsu không? Tôi hồ nghi là có.

Trả lời như thế để đừng vội vã lên án những người đòi đóng đinh Chúa Giêsu. Đừng vội gọi người ta là quân dữ (với hàm nghĩa rằng mình tốt lành). Những lời thách thức kia có thể phát xuất từ niềm tin chân thành. Đã gọi là Thiên Chúa thì phải là Đấng toàn năng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa toàn năng…”. Đã toàn năng thì làm gì chẳng được, huống chi xuống khỏi thập giá là chuyện quá dễ dàng! Mà nếu không xuống được thì rõ ràng không phải là Thiên Chúa rồi. Bản thân chúng ta lại không lý luận như vậy sao? Tại sao Chúa toàn năng mà lại để Hội Thánh phải chịu thiệt thòi đủ thứ thế này? Tại sao Chúa toàn năng mà lại không ngăn cơn sóng thần và động đất lại?

Đặt những câu hỏi như thế để thấy rằng khi Thiên Chúa chấp nhận để cho Con Ngài bị thế gian đóng đinh vào thập giá, Ngài đã bày tỏ cho ta thấy dung nhan một Thiên Chúa hoàn toàn khác. Đúng là Thiên Chúa toàn năng nhưng là sự toàn năng của tình yêu, tình yêu đi đến tận cùng, đến nỗi hiến dâng chính mạng sống mình cho thế gian được sống. Có thể nói Thập giá là cuộc cách mạng Copernique trong lịch sử tôn giáo, vì thập giá công bố một chân lý hoàn toàn mới về Thiên Chúa, mạc khải một dung mạo hoàn toàn mới về Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng toàn năng nhưng là toàn năng của Tình Yêu.

Có điều là người ta không dễ chấp nhận một Thiên Chúa như thế. Người ta dễ dàng tin rằng Thiên Chúa là Đấng quyền năng nhưng lại không dễ chấp nhận Chúa là Tình Yêu. Giuđa bán Thầy vì tham tiền. Cũng có cách giải thích rằng ông chủ trương bạo lực và muốn thúc đẩy Chúa Giêsu sử dụng bạo lực nhưng không được. Cuối cùng ông tìm cách dồn Chúa vào đường cùng với hi vọng Người sẽ phản ứng để tự vệ. Không ngờ Chúa Giêsu chọn con đường yêu thương đến cùng. Và Giuđa tuyệt vọng! Phêrô cũng thế. Phản ứng đầu tiên của ông là vung gươm vì muốn giải quyết vấn đề bằng bạo lực. Dân chúng buông lời thách thức cũng vì không chấp nhận được hình ảnh một Thiên Chúa yêu thương đến độ chịu đóng đinh thập giá. Điều đó vẫn tái diễn trong lịch sử Hội Thánh, chẳng hạn như những cuộc thánh chiến hoặc những tòa án xử người dị giáo.

Hiểu như thế, ngày nay, nếu suy tôn Thánh Giá để hô hào bạo lực thì chỉ là đi vào vết xe đổ của những cuộc thánh chiến, vốn chẳng đem lại vinh quang cho Hội Thánh mà chỉ để lại vết nhơ trong lịch sử mà ngày nay Hội Thánh phải lên tiếng xin lỗi nhân loại. Nếu suy tôn Thánh Giá chỉ để kích động oán thù, dù dưới bất cứ hình thức nào, thì e rằng đã phản bội sứ điệp của Thánh Giá.

Cho nên chiều nay khi cử hành nghi thức tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa và suy tôn Thánh Giá, xin Chúa cho chúng ta in sâu vào tâm trí mình chân lý này: suy tôn Thánh Giá là suy tôn tình yêu, tình yêu trọn vẹn, tình yêu đi đến tận cùng. Suy tôn như thế hàm chứa lời tuyên xưng tình yêu để tình yêu ấy thấm nhập và định hướng đời sống ta. Chỉ có tình yêu mới đem lại sự sống phục sinh. Chỉ có tình yêu mới ban tặng ơn cứu độ. Và chỉ có chứng tá tình yêu mới đáng tin trong thế giới này.

 mục lục

 

5.    Chúa Giêsu chủ động bước vào cuộc thụ nạn--Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái

A. Phân tích (Hạt giống...)

Thánh Gioan có một cái nhìn đặc biệt với cuộc chịu nạn của Chúa Giêsu. Thập giá không chỉ là con đường dẫn tới vinh quang:

- Đó là GIỜ mà từ lâu Chúa Giêsu hằng nghĩ tới và chuẩn bị, là thời điểm vinh qung mà vận động viên marathon chạy về tới đích đoạt chiếc cúp vàng.

- Do đó Gioan cho thấy Chúa Giêsu bước vào cuộc thụ nạn một cách đầy ý thức và chủ động. Gioan luôn lập đi lập lại những chữ “Ngài biết”. Chúa Giêsu biết trước những gì sắp xảy đến. Ngài luôn làm chủ những diễn biến.

- Trên Thập giá Chúa Giêsu trở thành VUA và lấy lại vinh quang Ngài vốn có nơi Chúa Cha. Từ Thập giá, Ngài:

- Kéo mọi người lên với Ngài.

- Sinh ra Hội thánh.

- Ban cho Hội thánh một người mẹ là Đức Maria.

- Tuôn tràn Thánh linh xuống cho Hội thánh. Bởi đó, khi chúng ta cùng Gioan đi theo những chặng đường Thập giá Chúa Giêsu, tâm tình của chúng ta phải có lạc quan và biết ơn.

B.  (...nẩy mầm)

1. Chính vì Chúa Giêsu luôn ý thức và chủ động trong mọi diễn biến của cuộc chịu nạn mà cuộc chịu nạn này mới có giá trị. Những đau khổ của chúng ta cũng thế.

2. Đối với Chúa Giêsu, Thập giá là vinh quang. Thánh Phalô cũng nói: “Vinh dự của chúng ta là Thập giá Đức Kitô”. Xin Chúa giúp chúng con có thể nói được như thế.

3. Khi George Nixon Biggs làm Thống Đốc bang Massachusetts, có 3 người bạn của ông đi viếng thánh điạ. Họ leo lên đỉnh núi Gôngôtha, bẻ một nhánh cây làm gậy. Khi trở về, họ tặng vị Thống Đốc cây gậy và nói: “Chúng tôi muốn Ngài biết cho rằng, khi đứng trên đỉnh đồi Canvê, chúng tôi đã nghỉ tới ngài”. Thống Đốc hết lòng cảm ơn họ, ưu ái nhận quà tặng và nói thêm: “Nhưng thưa các bạn, tôi còn nghĩ xa hơn: ở đó, có một Đấng khác cũng đã nghĩ tới tôi” (Góp nhặt).

4. Có một lần nhà truyền giáo hỏi lớp Giáo Lý Thánh kinh: “Nếu các bạn thấy một nhóm 12 người đàn ông rất giống nhau, trong đó có Đức Kitô, làm sao các bạn nhận ra Ngài? Nhiều người bải không biết. Nhưng một em bé nói: “Nhờ những dấu đanh trên tay Ngài” (Góp nhặt).

 

6.    Người đã chết vì tôi--Lm Giuse Đinh Lập Liễm

Hôm nay là thứ Sáu Tuần Thánh, theo lễ nghi Phụng vụ, không có Thánh lễ, nhưng có rước lễ, để kỷ niệm cái chết đau thương của Chúa Giêsu, giáo xứ chúng ta tổ chức nghi thức suy tôn Thánh giá Chúa. Trong giờ phút này, chúng ta hãy suy nghĩ về tình yêu bao la của Thiên Chúa đối với chúng ta qua cái chết nhục nhã của Chúa Giêsu trên thập giá. Chúa đã tự nguyện chịu chết thay cho chúng ta, thì chúng ta cũng phải đáp lại tình yêu ấy cho cân xứng, bởi vì chỉ có tình yêu mới đáp lại được tình yêu.

Người ta kể rằng:có một người khách du lịch, một lần kia vào xem một nghĩa địa nhà binh ở Nashville. Người ấy thấy một người đàn ông đang lấy hoa đặt trên một nấm mộ. Người du lịch thấy thế, mới hỏi:

- Đây là mộ của con ông, phải không?

- Thưa ngài, không.

- Của một người bà con ông, phải không?

- Thưa ngài, không.

- Thế sao ông đặt hoa lên mộ?

Người kia cảm động, bỏ hoa xuống kể cho người du lịch nghe. Đó là khi chiến tranh bùng nổ, chính phủ bắt tôi phải đi động viên. Mà nhà tôi nghèo không thể có tiền để thuê người khác đi giúp. Nên tôi đành phải tuân lệnh chính phủ chuẩn bị lên đường. Đang khi tôi thu dọn đồ đạc và từ giã vợ con, thì một người bạn đến bảo: “Anh còn vợ và nhiều cháu dại, nếu anh đi sẽ không có ai làm ăn để nuôi chúng, nên anh hãy ở lại nhà, để tôi đi thay cho”. Tôi vui mừng sung sướng để người bạn đi thay. Chẳng may sau ít lâu bạn tôi bị thương nặng ở một mặt trận rồi chết. Người ta chôn bạn tôi ở nghĩa địa này. Được tin, tôi đã vội vã đi tìm mộ bạn tôi và ngày hôm qua tôi đã tới đây tìm được mộ của bạn tôi.”.

Rồi người đó lấy một mảnh ván viết chữ: “Người đã chết vì tôi” để đặt trên mộ người bạn.

Kể lại câu chuyện anh hùng của một người đi lính để chết thay cho bạn, tôi muốn nhắc cho anh chị em biết tới cái chết thê thảm của Chúa Giêsu, Đấng đã liều mạng sống, Đấng đã hy sinh thịt máu mình, Đấng đã chịu đóng đinh trên cây Thánh giá để cứu chuộc không những một người, một gia đình, một dân tộc, mà còn để cứu chuộc tất cả nhân loại, không những Ngài chết thay tội cho một thế hệ, mà cho mọi thế hệ, mọi thời đại. Chúa Giêsu chính là Đấng chăn chiên nhân lành, hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên.

Chính Chúa Giêsu là Đấng đã chịu chết cho mỗi người chúng ta. Chính Ngài đã chết thay cho mỗi người  anh chị em cũng như tôi. Chính Ngài là Đấng mỗi người chúng ta  phải viết một tấm bảng để đặt dưới chân Thánh giá Chúa: “Đấng đã chết vì tôi” hay nói: “Vì tôi mà Chúa Giêsu phải chết”.

Bởi vì chính tội lỗi chúng ta mà Chúa Giêsu phải hy sinh tính mệnh, chính vì tội lỗi chúng ta  mà Chúa phải xuống thế làm người, phải chịu khổ cực vất vả và chịu đóng đinh một cách nhục nhã trên cây Thánh giá.

Đã phạm tội chúng ta phải đền tội, phải đổ máu, phải chịu chết. Các dân ngoại cũng đã làm như vậy, để xin thần phật tha tội cho họ, có dân đã phải giết trâu, giết bò để thế mạng, có dân đã giết những tù binh, có dân giết cả trẻ con, có dân khi thấy trời mưa bão, tưởng các thần thánh giận họ, họ lấy kiếm rạch đùi, lấy máu tung lên trời mà kêu: “Chúng tôi có tội, xin các ngài tha thứ cho chúng tôi”. Có dân lại lăn mình vào bánh xe nước rước các tượng thần có voi kéo để cho chết.

 Mà để chịu chết đền tội cho xứng đáng theo phép công bằng, chúng ta phải nhờ người khác đền thay, chết thay. Người đó chính là Chúa Giêsu, chính là Chúa Cứu Thế đã tự nguyện chết thay cho chúng ta.

Chúng ta là những người đáng phải chết, chết vì tội tổ tông, vì tội riêng mình đã phạm, nhưng chúng ta đã được sống, được cứu rỗi vì có Chúa Giêsu liều mạng sống để chết thay cho chúng ta.

Chúng ta phải tỏ lòng yêu mến biết ơn Chúa, yêu mến biết ơn bằng giữ giới răn Chúa, bằng lấy tình yêu để đáp lại tình yêu, bằng lấy mạng sống để thế lại mạng sống, bằng quyết hy sinh đời mình để yêu mến Chúa và thương yêu tha nhân. Nếu Chúa Giêsu đã liều mạng sống vì chúng ta thì đáp lại, chúng ta cũng phải liều mạng sống vì Ngài.

Nếu chúng ta biết can đảm liều mạng sống vì Chúa và vì tha nhân, chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa bầu chữa cho chúng ta trước mặt Chúa Cha, giống như trường hợp một người lính Rôma bị đưa ra trước tòa án, anh ta xin yết kiến  hoàng đế César và xin hoàng đế đến tòa án bênh vực và bầu chữa cho mình.

Hoàng đế César hết sức bỡ ngỡ vì thấy anh lính kia dám táo bạo như thế. Nhưng tỏ ra mình là người đại độ, cao thượng, ngài bèn phán với anh: “Ta sẽ cho một vị quan đi thay”. Tức thì người lính đó cởi áo ra, chỉ vào vết thương mà tâu: “Tâu ngài César, khi đánh trận, lúc tôi thấy một mũi tên sắp bắn tới ngài, chính tôi đã đứng ra đỡ mũi tên cho ngài”.

Chúng ta cũng vậy, nếu Chúa Giêsu đã không tìm người khác chịu đòn, chịu xỉ vả, đội mạo gai, vác thánh giá và chịu đóng đinh thay cho  Ngài, thì chúng ta cũng đừng ngại chịu đau khổ, hy sinh vì Chúa. Chúa đã chết cho ta thì chúng ta cũng phải chết cho Chúa. Mọi tình yêu chỉ có thể đáp trả bằng tình yêu, và cái chết chỉ có thể trả bằng cái chết.

Trong nghi thức suy tôn Thánh giá hôm nay, chúng ta có tổ chức hôn chân Chúa. Trong tâm tình tri ân cảm tạ, chúng ta hãy kính cẩn hôn chân Chúa. Cái hôn của chúng ta không được giả dối như cái hôn của Giuđa, mà phải là cái hôn thành thật, diễn tả lòng yêu mến biết ơn như bà Maria Madalena đã hôn chân Chúa ngày xưa.

Hôn chỉ là một biểu trưng về hình tính của tình yêu, thật ra chúng ta luôn phấn đấu để tình yêu ấy không chỉ dừng ở biểu hiện bề ngoài mà nó phải thường trú mãi mãi tận trong tâm, để mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành vi của chúng ta đều xuất phát từ hai chữ tình yêu. Đạt được như thế nghĩa là chúng ta tin rằng Chúa luôn luôn ngự trị trong tâm trí mình.

Nhưng phận người vốn mỏng dòn, yếu đuối và nhiều tội lỗi nên chúng ta cần liên lỉ khiêm tốn cầu xin sức mạnh của Ngài đổ xuống và nâng đỡ chúng ta luôn mãi trong cả đời sống, không khi nào ngừng. Và chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta biết hôn chân Chúa từng giây, từng phút trong cuộc đời chúng ta.

 

7.    Cái chết của Chúa -- Ga 18,1-19,42--Lm Giuse Đinh Tất Quý

"Người xem thấy việc này đã làm chứng,

và lời chứng của người ấy xác thực." (Ga 19,35)

Hôm nay, chúng ta tưởng nhớ đến cái chết của Chúa Giêsu, Chúa của chúng ta.

Chúa đã chết... Chết như nhiều người đã chết.

Ngày 5/9/1997, cả thế giới bàng hoàng và xúc động khi nghe tin Mẹ Têrêsa chết, chết tại thành phố Calcutta, sau một cơn đau tim đột ngột, hưởng thọ 87 tuổi.

Ngay sau cái chết của mẹ, báo chí đã đưa lên trang nhất những hàng tít lớn: "Mẹ của những người nghèo khổ đã ra đi" - "Vị nữ thánh của những người cùng khổ không còn nữa" - "Vị nữ thánh giữa đời thường đã vĩnh viễn ra đi."

Không phải chỉ thế giới đau buồn và cảm động trước cái chết của mẹ, mà nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cũng bày tỏ lòng thương tiếc sâu sắc. Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã gửi đến Calcutta bức điện chia buồn như sau: "Buổi tối hôm nay đã có ít tình yêu hơn, ít lòng trắc ẩn hơn và cũng ít ánh sáng hơn trên thế giới."

Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đã nói: "Mẹ là người luôn gây ngạc nhiên, một trong những vĩ nhân của thời đại này."

Thủ tướng Tony Blair của nước Anh đã gửi đến Calcutta lời phân ưu: "Trong một tuần đầy bi kịch, thế giới lại càng buồn hơn vì một trong những người phục vụ nhiều lòng trắc ẩn nhất đã ra đi."

Nước Albani, quê hương thứ nhất của mẹ tuyên bố "Cả nước sẽ để tang mẹ ba ngày."

Tại Ấn Độ, nơi người Công giáo chỉ là thiểu số, thủ tướng Inder Kamar đã tuyên bố tổ chức lễ an táng mẹ tại sân vận động quốc gia New Delhi theo nghi thức quốc táng.

Vâng, đó là một cái chết, cái chết thật đẹp, đẹp còn hơn một giấc mơ. Ngày an táng mẹ, Đức Thánh Cha đã cử đặc sứ của Ngài tới. Rất nhiều nhà lãnh đạo đạo đời trên thế giới đã có mặt. Từ trước cho đến nay, chưa có nhà lãnh đạo nào trên thế giới này, được yêu thương đến như thế.

Mẹ Têresa đã chết.

Và gần 2000 năm trước Chúa Giêsu cũng đã chết.

Ngài đã chết, một cái chết mà Ngài đã báo trước: "Con Người sẽ bị nộp cho các Thượng tế và Kinh sĩ. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, sẽ đánh đòn và giết chết Người." (Mc 10,33-34)

Một cái chết đau thương đến cực độ, cô đơn đến cực độ, nhục nhã đến cực độ. Chúa Giêsu đã chết không phải như một "vị thánh lìa đời" hay như "Mẹ của những người nghèo khổ đã ra đi" - "Vị nữ thánh của những người cùng khổ không còn nữa" - "Vị nữ thánh giữa đời thường đã vĩnh viễn lìa bỏ chúng ta."

Cái chết của Chúa chẳng được nhà lãnh đạo nào trên thế giới bày tỏ lòng thương tiếc. Chẳng được một người nào trên thế giới gửi điện đến phân ưu, chẳng được quốc gia nào tuyên bố sẽ tổ chức tang lễ theo nghi thức quốc táng.

Một cái chết không có vòng hoa, chẳng có vòng cườm, và cũng chẳng có ai để tang.

Một cái chết không kèn, không trống, không người đốt cho một nén nhang, cũng chẳng ai thắp cho một ngọn đèn.

Vậy mà ngày hôm nay, hay nói đúng hơn, suốt hơn hai mươi thế kỷ nay, biết bao nhiêu con người đã, đang và vẫn còn phải ngậm ngùi, rơi lệ, không cầm được sự xúc động mỗi khi tưởng nhớ đến cái chết này.

Tại sao? Tại sao thế?

Câu trả lời: Vì đó là một cái chết đẹp, đẹp tuyệt vời. Không đẹp ở hình thức bên ngoài nhưng đẹp ở nội dung, ở ý nghĩa. Bởi vì đây là một cái chết của Con Một Thiên Chúa - đã tự nguyện hy sinh để chuộc tội cho cả loài người.

Với mẹ Têrêsa, cái chết của mẹ đã đẹp vì được cả thế giới tiếc thương. Cái chết của một con người đã dám dấn thân và trung thành với lý tưởng phục vụ trong yêu thương cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời - như lời mẹ đã từng hóm hỉnh tuyên bố sau một lần chết hụt như sau: "Tôi đã đến cổng Thiên Đàng nhưng thánh Phêrô bảo tôi: Trở lại đi con. Ở đây đâu có người nghèo khổ nào để con chăm sóc đâu, - thế là tôi trở lại - Đối với tôi, điều hạnh phúc nhất là có thể giúp cho người ta chết một cái chết xứng đáng với phẩm giá một con người."

Còn cái chết của Chúa? Đây không phải chỉ là cái chết của một con người, nhưng là cái chết của Người Con Một, Người Con Duy Nhất của Thiên Chúa, một cái chết: Không chỉ đơn giản như một sự lìa đời nhưng là một cái chết để nói lên sự trung thành tuyệt đối với ý muốn của Thiên Chúa, là thái độ yêu thương của một người con sẵn sàng làm mọi sự Cha muốn - cũng như sẵn sàng trả giá cho sự vâng phục đó bằng một lòng trung thành không có gì lay chuyển nổi - cho dù có phải hy sinh, tủi nhục, đau khổ, bị bỏ rơi và nhất là phải chết trên Thập Giá.

Vâng! Chúa đã chết.

Chúng con cám ơn Chúa đã chết vì yêu thương chúng con.

Xin cho chúng con biết sống xứng đáng với tình thương của Chúa và mãi trung thành với hồng ân cao quí Chúa đã dành cho chúng con. Amen.

 

8.    Nhìn ngắm Thánh Giá, khám phá tình yêu--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn lên Thánh Giá nơi treo Chúa Giêsu vị Phu Quân của mình, chân tay đanh nhọn đâm thâu, cạnh sườn lưỡi đòng đâm thủng, máu cùng nước chảy ra làm cho Giáo hội nhớ đến ngày mình được sinh ra từ cạnh sườn Chúa, lúc Chúa ngủ trên Thánh Giá với tất cả tình yêu. Bởi theo thánh Ambrosiô, lúc Ađam đang ngủ Thiên Chúa đã lấy xương sườn của ông để tạo dựng Evà thế nào, thì lúc Chúa Giêsu chết nằm trên Thánh Giá, Giáo hội cũng được sinh ra từ Trái Tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu như vậy, và Giáo hội tưởng nhớ đến tình yêu dâng trào ấy.

Câu chuyện tình yêu

Giảng trong Thánh lễ sáng thứ ba ngày 15/03.2016, tại nguyện đường Thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Nếu muốn biết ‘câu chuyện tình’ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, chúng ta phải ngắm nhìn Thánh Giá, nơi ấy có một vị Thiên Chúa đã hoàn toàn ‘trút bỏ vinh quang’, sẵn sàng bị ‘vấy bẩn’ bởi tội lỗi con người để cứu con người khỏi chết”.

Thật không thể hiểu nổi Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào. Người đã yêu chúng ta bằng tình yêu vô bờ bến, tình yêu thương xót và thứ tha, khi phải mang trên mình những đau khổ vì tội lỗi chúng ta. Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa được Isaia mô tả: “Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.

Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta” (Is 53, 2-6).

Người ta nói rằng: nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai biến nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh, và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó là thư thứ nhất của thánh Gioan viết  “Thiên Chúa là Tình Yêu “, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó. Mầu Nhiệm Thập Giá mà chúng ta cử hành là bằng chứng. Vì thế, khi suy tôn Thánh giá Chúa, kính nhớ Chúa chịu chết, chúng ta cảm nhận được sự thật rằng: “Thiên Chúa là Tình Yêu”.

Thờ lạy Thánh Giá Chúa

Phần tiếp theo của nghi thức chiều nay là thờ lạy Thánh Giá, tiến xướng chúng ta hát: Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa… vì nhờ gỗ này mà cả vũ trụ được hân hoan. Tại sao vậy?

Thưa, Thánh Giá không phải là đồ trang sức, không phải là một công trình nghệ thuật được đính nhiều đá quý và kim cương lấp lánh. Nhưng như chúng ta thấy, Thánh Giá là mầu nhiệm tự hủy của Thiên Chúa vì yêu thương. Đây chính là câu chuyện về ơn cứu độ của chúng ta. Đây cũng là chuyện tình của Thiên Chúa.

Với khí giới của riêng mình là cây Thánh Giá, Chúa Giêsu đã chiến thắng cách diệu kỳ. Nếu như đã có một người nữ tên là Evà bị thất bại trước khí cụ của con rắn xưa là cây trái cấm, đem sự chết vào thế gian, Ađam phải chết. Thì nay, Đức Maria, thay thế Evà, cũng với cây sự sống, cây biết lành biết dữ làm gỗ giá treo Chúa Giêsu lên, Người đã đánh bại tử thần, sống lại hiển vinh, cứu con cháu Ađam khỏi chết. Ma quỷ đã bị đánh bại bởi cùng một phương tiện mà nó đã chiến thắng. Ma quỉ đã dùng cây để quật ngã Adam, Chúa Giêsu Kitô đã dùng cây Thánh Giá để đánh bại Nó. Cây trái cấm đã ném con người vào vực thẳm, nay gỗ Thánh Giá kéo con người lên. Cây trái cấm đã làm cho con người mất đi tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, tống con người vào ngục; nay gỗ Thánh Giá tước lấy vũ khí của ma quỉ đã chiến thắng con người, giúp con người vượt qua trần thế. Cái chết của Adam đã kéo theo con cháu mình là kẻ sinh sau ông; sự chết của Chúa Giêsu Kitô mang lại sự sống cho những kẻ sinh ra trước Người. Quả làm một tuyệt phẩm về tình yêu giữa Thiên Chúa với nhân loại từ cây Thánh Giá.

Thánh Giá là cờ vua cả toàn thắng đã cứu chúng ta cho khỏi tay ma quỉ, là vũ khí chông lại tội lỗi, là thanh gươm sắc bén Chúa Giêsu dùng để chiến thắng con rắn xưa. Thánh Giá là ý Chúa Cha, là vinh quang của Chúa Con độc nhất, là chiến thắng của Thánh Thần Thiên Chúa, là niềm vinh dự của các thiên thần, là sự an toàn của Giáo hội, là bức tường thành của các vị thánh, niềm tự hào của thánh Phaolô, là ánh sáng chiếu soi trên toàn thế giới. Từ đây, “sự chết đã bị vùi trong toàn thắng. Tử thần hỡi, đắc thắng của ngươi đâu? Tử thần hỡi, nọc của ngươi đâu?” (1Cr 15, 54-55).

Thế giới khi nhìn xem Con Thiên Chúa chịu đóng đinh, rùng mình, trời đất động địa, đã vỡ ra; nhưng trái tim của những người Do Thái, cứng hơn đá vẫn không động đậy. Các màn trong đền thờ bị xé ra; nhưng các âm mưu phạm tội vẫn không bị phá vỡ. Tại sao màn che bị xé? Phải chăng đền thờ đau đớn khi chứng kiến cảnh Thiên Chúa bị giết bên ngoài trên bàn thờ Thập Giá; và khăn che trong đền thờ xé ra như muốn nói với mọi người rằng: sẽ có nhiều đền thờ trở nên hoang vắng và bị bỏ rơi. Chúng ta hãy học để chiến thắng mà không phải chiến đấu, không phải dàn trận, vũ khí không dính máu, chúng ta không bị thương vong nhưng lại giành chiến thắng: Thiên Chúa chiến đấu, còn vương niệm chiến thắng chúng ta nhận.

Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Xin Chúa cho chúng con khi nhìn ngắm Thánh Giá Chúa, biết khám phá ra rằng, Thiên Chúa đã chết chỉ vì yêu, để chúng con biết yêu thương nhau hầu chứng tỏ rằng chúng con yêu Chúa, vì đó là cốt lõi của Đạo Chúa. Amen.

 

9.    Thiên Chúa là Tình Yêu-- Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Thiên Chúa là Tình Yêu”

Vì yêu thương mỗi người chúng ta, Đức Giêsu đã bằng lòng chịu chết.

Khi chiêm ngắm cạnh sườn Chúa Giêsu bị lưỡi đòng đâm thấu, chúng ta thấy Thiên Chúa yêu con người đến như thế nào.

Người ta nói rằng: nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai biến nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh mà thôi; và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó từ Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan trong đó viết “Thiên Chúa là Tình Yêu”, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó.

Mầu nhiệm thập giá mà chúng ta cử hành là bằng chứng. Nicholas Cabasilas, một tác giả Đông Phương, cho rằng có hai cách thể hiện tình yêu với người khác. Cách thứ nhất bao gồm làm điều tốt cho người mình yêu, tặng quà cho họ; cách thứ hai đòi hỏi hy sinh hơn nhiều, bao gồm sự đau khổ vì người mình yêu.

Thiên Chúa đã ta bằng một tình yêu hào phóng khi tạo dựng nên ta, ban cho ta những hồng ân bên trong và bên ngoài; Ngài cũng đã yêu chúng ta với một tình yêu khổ đau khi cứu chuộc ta, khi Ngài nghĩ ra cách hủy diệt chính mình, chịu đau đớn nhất, để minh chứng cho ta thấy tình yêu của Ngài. Do đó, khi suy tôn Thánh giá Chúa, ta cảm nhận được sự thật rằng: “Thiên Chúa là Tình Yêu”.

Thánh Gioan viết: “Chúa Giêsu đã yêu thương họ thì yêu thương đến cùng”.

Đến cùng của con người có nghĩa là sự chết, Chúa đã yêu thương ta đến chết, Ngài nói: « Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu », không thể diễn tả tình yêu ở mức độ nào cao hơn nữa.

Nhưng đến cùng còn có nghĩa là với những người Ngài yêu ấy, người đó sẽ được đón nhận tột cùng của ân sủng. Vì Chúa Giêsu không muốn gì hơn là tất cả được ơn cứu độ, mà muốn được ơn cứu độ thì phải có sự sống thần linh và sự sống đó được ban cho bởi Mình và Máu Thánh Ngài.

Đoạn Phúc âm chúng ta vừa đọc và nghe đó, gọi là bài Thương khó. Chữ “passion” (thương khó) có hai nghĩa: Nó chỉ định một tình yêu tha thiết, “passionate”, hay một đau thương. Yêu tha thiết và khổ đau có liên hệ chặt chẽ với nhau. Chính Thiên Chúa luôn mang trong lòng một “tình yêu tha thiết” đối với nhân loại mà đến thời viên mãn, Ngài đã xuống thế làm người và chịu đau khổ vì chúng ta.

Trong tác phẩm Quo Vadis, một người ngoại giáo hỏi Thánh Phêrô khi ngài mới đến Rôma như thế này: Nhã Điển đem đến cho chúng tôi sự thông thái, Rôma đem đến quyền lực, còn tôn giáo của ông đem lại cho chúng tôi điều gì? Thánh Phêrô trả lời: Tình yêu!

Tình yêu là thứ mong manh nhất trên trần đời, thưa anh chị em. Nó hình tượng, và nó giống như trẻ nhỏ. Nó có thể bị giết dễ dàng như chúng ta đã thấy trong bàng hoàng việc giết chết một trẻ nhỏ dễ đến mức nào trong thời đại hôm nay. Nhưng quyền lực và khôn ngoan, nghĩa là sức mạnh và tài năng, trở thành cái gì nếu không có tình yêu và lòng tốt? Chúng trở thành Auschwitz, Hiroshima và Nagasaki và tất cả những thứ khác mà chúng ta biết rất rõ.

Vâng, Thiên Chúa yêu con người bằng một Tình yêu hào phóng, không những trao ban nhưng không, mà tình yêu đó còn mang theo tha thứ.

Đức Giêsu đã nói nơi bàn Tiệc Ly: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Ngài không thí mạng sống cho bạn hữu nhưng cho kẻ thù của mình! Thánh Phaolô thốt lên “Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5:7-8).

Tuy nhiên, chữ “bạn” ở đây trong nghĩa tích cực chỉ những ai thương mình, nhưng trong nghĩa tiêu cực nó chỉ những người mình thương. Chúa Giêsu gọi Giuđa là “bạn” (Mt 26:50) không phải vì Giuđa thương Ngài, nhưng vì Ngài thương Giuđa! Không một tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì kẻ thù, coi họ như bạn hữu: đó là ý nghĩa của lời Chúa. Con người có thể là kẻ thù của Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa mãi mãi không là kẻ thù của nhân loại.

Tình yêu của Chúa Kitô trên thánh giá là một tình yêu thương xót, một tình yêu thứ tha, không muốn tiêu diệt kẻ thù, nhưng tiêu diệt lòng thù hận nếu có. (x Ep 2:16). Chúa Giêsu khi hấp hối nói rằng “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23:34).

Chính lòng thương xót này và khả năng tha thứ là điều chúng ta cần đến ngày nay, để tránh đừng trượt xa hơn nữa vào hố sâu bạo lực toàn cầu. Thánh Phaolô viết cho dân thành Côlôsê như thế này: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3:12-13).

Xin Chúa cho chúng ta khi nhìn lên Thánh giá Chúa, biết khám phá ra rằng Thiên Chúa đã chết chỉ vì yêu, từ đó chúng ta biết yêu thương nhau để chứng tỏ rằng ta yêu Chúa, vì đó là cốt lõi cửu Đạo chúng ta. Amen.

mục lục

 

10. Câu chuyện tình yêu--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn lên Thánh Giá nơi treo Chúa Giêsu vị Phu Quân của mình, chân tay đanh nhọn đâm thâu, cạnh sườn lưỡi đòng đâm thủng, máu cùng nước chảy ra làm cho Giáo hội nhớ đến ngày mình được sinh ra từ cạnh sườn Chúa, lúc Chúa ngủ trên Thánh Giá với tất cả tình yêu. Bởi theo thánh Ambrosiô, lúc Ađam đang ngủ Thiên Chúa đã lấy xương sườn của ông để tạo dựng Evà thế nào, thì lúc Chúa Giêsu chết nằm trên Thánh Giá, Giáo hội cũng được sinh ra từ Trái Tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu như vậy, và Giáo hội tưởng nhớ đến tình yêu dâng trào ấy.

Câu chuyện tình yêu

Giảng trong Thánh lễ sáng thứ ba ngày 15/03/2016, tại nguyện đường Thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Nếu muốn biết ‘câu chuyện tình’ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, chúng ta phải ngắm nhìn Thánh Giá, nơi ấy có một vị Thiên Chúa đã hoàn toàn ‘trút bỏ vinh quang’, sẵn sàng bị ‘vấy bẩn’ bởi tội lỗi con người để cứu con người khỏi chết”.

Thật không thể hiểu nổi Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào. Người đã yêu chúng ta bằng tình yêu vô bờ bến, tình yêu thương xót và thứ tha, khi phải mang trên mình những đau khổ vì tội lỗi chúng ta. Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa được Isaia mô tả: ”Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.

Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta” (Is 53, 2-6).

Người ta nói rằng: nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai biến nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh, và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó là thư thứ nhất của thánh Gioan viết “Thiên Chúa là Tình Yêu”, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó. Mầu Nhiệm Thập Giá mà chúng ta cử hành là bằng chứng. Vì thế, khi suy tôn Thánh giá Chúa, kính nhớ Chúa chịu chết, chúng ta cảm nhận được sự thật rằng: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. 

Thờ lạy Thánh Giá Chúa

Phần tiếp theo của nghi thức chiều nay là thờ lạy Thánh Giá, tiến xướng chúng ta hát: Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa… vì nhờ gỗ này mà cả vũ trụ được hân hoan. Tại sao vậy? 

Thưa, Thánh Giá không phải là đồ trang sức, không phải là một công trình nghệ thuật được đính nhiều đá quý và kim cương lấp lánh. Nhưng như chúng ta thấy, Thánh Giá là mầu nhiệm tự hủy của Thiên Chúa vì yêu thương. Đây chính là câu chuyện về ơn cứu độ của chúng ta. Đây cũng là chuyện tình của Thiên Chúa.

Với khí giới của riêng mình là cây Thánh Giá, Chúa Giêsu đã chiến thắng cách diệu kỳ. Nếu như đã có một người nữ tên là Evà bị thất bại trước khí cụ của con rắn xưa là cây trái cấm, đem sự chết vào thế gian, Ađam phải chết. Thì nay, Đức Maria, thay thế Evà, cũng với cây sự sống, cây biết lành biết dữ làm gỗ giá treo Chúa Giêsu lên, Người đã đánh bại tử thần, sống lại hiển vinh, cứu con cháu Ađam khỏi chết. Ma quỷ đã bị đánh bại bởi cùng một phương tiện mà nó đã chiến thắng. Ma quỉ đã dùng cây để quật ngã Adam, Chúa Giêsu Kitô đã dùng cây Thánh Giá để đánh bại Nó. Cây trái cấm đã ném con người vào vực thẳm, nay gỗ Thánh Giá kéo con người lên. Cây trái cấm đã làm cho con người mất đi tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, tống con người vào ngục; nay gỗ Thánh Giá tước lấy vũ khí của ma quỉ đã chiến thắng con người, giúp con người vượt qua trần thế. Cái chết của Adam đã kéo theo con cháu mình là kẻ sinh sau ông; sự chết của Chúa Giêsu Kitô mang lại sự sống cho những kẻ sinh ra trước Người. Quả làm một tuyệt phẩm về tình yêu giữa Thiên Chúa với nhân loại từ cây Thánh Giá.

Thánh Giá là cờ vua cả toàn thắng đã cứu chúng ta cho khỏi tay ma quỉ, là vũ khí chông lại tội lỗi, là thanh gươm sắc bén Chúa Giêsu dùng để chiến thắng con rắn xưa. Thánh Giá là ý Chúa Cha, là vinh quang của Chúa Con độc nhất, là chiến thắng của Thánh Thần Thiên Chúa, là niềm vinh dự của các thiên thần, là sự an toàn của Giáo hội, là bức tường thành của các vị thánh, niềm tự hào của thánh Phaolô, là ánh sáng chiếu soi trên toàn thế giới. Từ đây, “sự chết đã bị vùi trong toàn thắng. Tử thần hỡi, đắc thắng của ngươi đâu? Tử thần hỡi, nọc của ngươi đâu?” (1Cr 15, 54-55).

Thế giới khi nhìn xem Con Thiên Chúa chịu đóng đinh, rùng mình, trời đất động địa, đã vỡ ra; nhưng trái tim của những người Do Thái, cứng hơn đá vẫn không động đậy. Các màn trong đền thờ bị xé ra; nhưng các âm mưu phạm tội vẫn không bị phá vỡ. Tại sao màn che bị xé? Phải chăng đền thờ đau đớn khi chứng kiến cảnh Thiên Chúa bị giết bên ngoài trên bàn thờ Thập Giá; và khăn che trong đền thờ xé ra như muốn nói với mọi người rằng: sẽ có nhiều đền thờ trở nên hoang vắng và bị bỏ rơi. Chúng ta hãy học để chiến thắng mà không phải chiến đấu, không phải dàn trận, vũ khí không dính máu, chúng ta không bị thương vong nhưng lại giành chiến thắng: Thiên Chúa chiến đấu, còn vương niệm chiến thắng chúng ta nhận.

Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Xin Chúa cho chúng con khi nhìn ngắm Thánh Giá Chúa, biết khám phá ra rằng, Thiên Chúa đã chết chỉ vì yêu, để chúng con biết yêu thương nhau hầu chứng tỏ rằng chúng con yêu Chúa, vì đó là cốt lõi của Đạo Chúa. Amen.

 

11. Cái Chết Cứu Chuộc--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay, chúng ta cửa hành ngày đầu tiên của Tam Nhật Thánh, ngày Chúa chết. Có người hỏi: Thánh sao được khi mà chính tội lỗi chúng ta đã giết chết Thiên Chúa, ngày đại tang của Giáo hội kia mà? Thưa, vì qua cái chết của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót bao la đối với nhân loại và đã cứu chuộc chúng ta. Ngày này là ngày chiến thắng của Thập giá, chính từ trên Thánh giá, Chúa Giêsu đã trối lại cho chúng ta người mẹ tuyệt hảo nhất của chính Chúa là Đức Maria, tha thứ cho những kẻ giết Chúa và lòng tin cậy vào Thiên Chúa là Cha.

Chúng ta đã nghe thấy những điều nói trên trong bài thương khó Đức Chúa Giêsu theo Thánh Gioan, hiện diện trên đồi Calvariô có mẹ Người là Đức Maria, cùng với một số phụ nữ thánh thiện khác. Đây là một trình thuật giàu tính biểu tượng, mọi cử chỉ, lời nói, hành động đều có ý nghĩa. Ngay cả sự thinh lặng và chay tịnh của Giáo hội hôm nay cũng giúp chúng ta sống bầu khí cầu nguyện, ý thức rõ về hồng ân mà chúng ta đang cử hành.

Trước màu nhiệm cao cả này, chúng ta được mời gọi để nhìn lên phía trước. Niềm tin của chúng ta, những người tin vào Thiên Chúa, không phải là tôn thờ một Thiên Chúa trừu tượng xa vời chúng ta không biết, nhưng là liên đới với một ngôi vị sống động là Chúa Giêsu, con Thiên Chúa làm người, là Thiên Chúa thật và là người thật. Đấng vô hình đã nhập thể làm người trong thế giới hữu hình, đã sống trọn thân phận con người cho đến chết và chết trên thập tự. Cái chết của Chúa Giêsu là cái chết cứu chuộc, một cái chết mang lại sự sống cho loài người. Cái chết ấy chính là của lễ cao cả dâng lên Chúa Cha, được Chúa Cha ưng nhận đã trở nên giá chuộc cho nhiều người. Những người đứng bên Thánh giá đã chứng kiến và sống, đồng thời truyền lại cho chúng ta, chúng ta khám phá ra ý nghĩa của cái chết này.

Chúng ta hay đem lòng ngưỡng mộ và biết ơn. Chúng ta biết cái giá của tình yêu: “Không có tình yêu lớn lao hơn tình yêu của người hiến mạng vì bạn hữu của mình”. Kinh nguyện Kitô giáo không chỉ là cầu xin, mà trên hết vẫn là để ngưỡng mộ với lòng biết ơn.

Chúa Giêsu, đối với chúng ta, là mẫu gương cho chúng ta học đòi bắt chước, nghĩa là được tái hiện trong ta. Chúng ta phải là những người yêu thương đến thí mạng sống mình và tin tưởng vào Thiên Chúa là Cha trong mọi hoàn cảnh.

Điều này trái ngược với bầu không khí thờ ơ của xã hội hôm nay. Chính vì thế, chúng ta phải là những chứng nhân dũng cảm hơn bao giờ hết, vì tất cả là hồng ân. Như Mêlitô thành Sarđi nói: “Người làm cho chúng ta từ nô lệ sang tự do, từ bóng tối đến ánh sáng, từ sự chết cho đến sự sống. Người là Lễ Vượt Qua cứu độ chúng ta”.

Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh giá Chúa, vì Chúa đã dùng Thánh giá mà cứu chuộc thế gian. Amen!

 

12. Thành tâm sám hối và quyết tâm theo Chúa--Lm Đan Vinh

(Is 52,13-53,12; Dt 4,14-16;5,7-9; Ga 18,1-19,42)

Về cuộc thương khó của Chúa Giê-su, mỗi người chúng ta xem ra cũng đều góp phần vào cái chết đau thương của Chúa như sau:

1) Có thể chúng ta đã có lúc hèn nhát giống như quan Phi-la-tô khi không dám lên tiếng bênh vực cho công lý và sự thật vì sợ những kẻ gian ác.

– Có thể chúng ta cũng đã hành xử giống như Giu-đa khi coi tiền bạc, coi công việc làm ăn của mình hơn việc tuân giữ giới răn của Chúa. Hoặc có thể chúng ta lại trở thành kẻ nội gián làm tay sai cho kẻ có quyền để chống lại các vị chủ chăn trong Hội Thánh.

– Có thể chúng ta cũng có lần đã hành động giống như Phê-rô khi hèn nhát chối bỏ đức tin trước mặt người khác.

– Có thể chúng ta cũng đã có lần hành động giống như các thượng tế khi có ganh ghét chống lại những ai hơn mình.

– Có thể chúng ta đã hành xử giống như quân dữ khi lên tiếng chế giễu, đùa cợt trên sự đau khổ của người khác.

– Có thể chúng ta cũng có lần đã hành xử như kẻ trộm dữ khi cố chấp không nhìn nhận lỗi lầm của mình và lên tiếng thách thức quyền năng của Thiên Chúa.

– Có thể chúng ta cũng đã hành động giống như đám đông dân chúng khi hùa theo dư luận xấu để kết án bất công cho người vô tội.

2) Trong những ngày này, mỗi người chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mình noi gương Mẹ Maria: sẵn sàng đón nhận thập giá là các nghịch cảnh gặp phải trong cuộc sống để trung thành bước theo chân Chúa trong niềm tin yêu phó thác.

- Hãy cầu xin Chúa cho chúng ta noi gương ông Si-mon Ky-rê-nê khi sẵn sàng cảm thông vác đỡ gánh nặng cho tha nhân.

- Hãy cầu xin Chúa cho chúng ta biết noi gương bà Ve-ro-ni-ca khi nhận ra khuôn mặt của Chúa nơi những người đau khổ và động viên giúp họ vượt qua thử thách.

- Hãy cầu xin Chúa cho chúng ta biết noi gương người trộm lành để nhìn nhận mình là kẻ có tội và thành tâm sám hối để xứng đáng đón nhận ơn cứu độ của Chúa.-AMEN.

 

13. Chấp nhận hy sinh chịu chết trên Thập Giá vì yêu thương--Lm Đan Vinh

Is 52,13-53,12; Dt 4,14-16;5,7-9; Ga 18,1-19,42

1. CHÚA GIÊ-SU - ĐẤNG GIÀU LÒNG TỪ BI THƯƠNG XÓT:

Tại một nhà thờ bên Tây Ban Nha có một tượng thánh giá rất đặc biệt: Chúa Giêsu chịu đóng đinh có một tay trái và hai chân, tay phải rời khỏi lỗ đinh và đưa ra phía trước trong tư thế như đang ban phép lành. Chuyện kể rằng, một lần, tại nhà thờ này có một tội nhân đến xưng tội. Đối với một tội nhân phạm quá nhiều tội như anh ta, vị linh mục tỏ thái độ nghiêm khắc với anh. Nhưng chứng nào vẫn tật đó. Ra khỏi tòa giải tội được ít ngày, anh ta lại sa ngã tái phạm. Sau nhiều lần như thế, cuối cùng, vị linh mục đành nói với anh: “Tôi không muốn anh tiếp tục sa đi ngã lại như thế nữa. Đây là lần cuối cùng tôi tha tội cho anh”.

Hối nhân ra khỏi tòa giải tội mà lòng trĩu nặng u buồn đau khổ. Được vài tháng sau, anh ta lại đến xưng tội, và lần này cũng lại xưng những tội y như những lần trước. Vị linh mục dứt khoát nói: “Anh đừng có đùa với Chúa, lần này tôi không tha nữa!” Thật lạ lùng. Ngay lập tức, vị linh mục cùng hối nhân đều nghe có tiếng thì thầm phía trên đầu mình. Từ cây thánh giá, bàn tay phải của Chúa Giêsu như được rời ra khỏi lỗ đinh như đang ban phép lành cho hối nhân. Vị linh mục nghe được tiếng Chúa nói với mình rằng: “Ta chứ không phải con đã đổ máu ra đền tội thay cho người này”.

Kể từ đó, bàn tay phải của bức tượng Chúa Giêsu chịu nạn không còn gắn vào cây thánh giá nữa, nhưng luôn trong tư thế đang ban phép lành, như đang mời gọi: “Hãy trở về với Ta, các ngươi sẽ nhận được ơn tha thứ tội lỗi”.

Hôm nay, Chiên Vượt Qua của chúng ta là Đức Ki-tô đã chịu hiến tế, Hội Thánh nhìn ngắm và kính thờ Thánh Giá của Chúa Giê-su. Hội Thánh tưởng niệm mình đã được sinh ra từ cạnh sườn của Chúa Kitô Đấng đã bị lưỡi đòng đâm thâu trên cây thập giá, và dâng lời cầu xin cho mọi người được hưởng ơn cứu độ của Chúa.

2. NOI GƯƠNG CHÚA THỂ HIỆN TÌNH THƯƠNG CỤ THỂ ĐỐI VỚI THA NHÂN:

- Một em bé gái 5 tuổi mồ côi cha mẹ sống chung với bà ngoại. Hai bà cháu sống trên một căn gác xép tồi tàn nóng bức. Bà hằng ngày phải đi bán vé số và thu lượm ve chai bán lấy tiền thuê phòng trọ và nuôi hai bà cháu. Rồi vào một đêm nọ, căn gác của hai bà cháu tự nhiên bị hỏa hoạn do bất cẩn, bà ngoại bị té ngã xuống cầu thang gác và bị bất tỉnh khi ngọn lửa cháy lan ra cả nhà. Láng giềng có người đã vội gọi điện tới sở cứu hỏa gần đó, còn nói chung mọi người chỉ biết đứng nhìn ngọn lửa cháy bao trùm toàn bộ ngôi nhà. Bỗng một bé gái xuất hiện bên trong cửa sổ của căn gác và đang la khóc kêu cứu. Nhưng đội cứu hỏa lại chưa tới và không ai trong đám đông dám liều vào trong căn nhà đang cháy leo lên gác cứu đứa bé. Thình lình, một người đàn ông xuất hiện vác theo một chiếc thang trên vai. Ông vội leo lên ban công và đạp cửa vào trong nhà và sau đó ông trở ra tay ôm theo cô bé rồi leo xuống cầu thang. Ông trao bé gái lại cho một bà trong đám đông rồi biến mất. Mấy ngày sau, ông trưởng khu phố đã mở một cuộc họp để tìm cha mẹ nuôi cho bé gái mồ côi. Một cô giáo giơ tay xung phong nhận nuôi em bé và hứa sẽ dạy dỗ em nên người tốt. Nhiều người khác cũng giơ tay với cùng ý muốn nhận để nuôi em. Cuối cùng một đại gia tay đeo nhẫn vàng lớn đã đứng lên phát biểu: "Tôi xin nhận làm cha mẹ nuôi của em bé này và hứa sẽ cho em mọi thứ tốt đẹp và sự giàu có mà tôi đang có”. Còn em bé gái chỉ biết im lặng và dáo dác nhìn quanh như đang chờ đợi một ai đó lên tiếng. Cuối cùng, khi sắp hết giờ, ông trưởng khu phố chủ trì buổi họp hỏi: "Còn ai muốn nói điều gì nữa không?" Bấy giờ, từ cuối hội trường, một người đàn ông từ từ tiến lên. Ông đến gần đứa bé và dang hai tay ra trước bé. Mọi người đều thấy rõ các vết cháy nám trên hai cánh tay của ông. Còn bé gái vừa nhìn thấy ông đã vội kêu lên: "Đây chính là người đã cứu con khỏi đám cháy đêm trước". Rồi em chạy tới bá lấy cổ ông, áp mặt vào vai ông và thổn thức khóc và ngước mắt nhìn ông mỉm cười sung sướng với hai giọt lệ lăn trên đôi má của em.

- Câu chuyện trên cho chúng ta thấy: Tình yêu không chỉ bằng lời nói suông, mà phải bằng việc làm. Thật vậy, một diễn giả dù có nói thao thao bất tuyệt về tình yêu thương cũng không thuyết phục được người nghe bằng một cử chỉ thân thương của một bà mẹ đang nâng niu đứa con yêu trong vòng tay của mình, hoặc bằng một cử chỉ thân thương giữa đôi vợ chồng trẻ dành cho nhau... Đây cũng chính là cách diễn tả tình thương của Chúa Giê-su đối với chúng ta. Người đã hy sinh chịu chết đau thương trên cây thập giá để chứng tỏ tình yêu tột đỉnh dành cho chúng ta như Người đã phán: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).

3. LỜI CẦU QUYẾT TÂM:

Lạy Chúa Giêsu. Chúa đã yêu thương chúng con vô cùng, nên đã hy sinh chịu chết trên thập giá để đền tội thay cho chúng con. Chúa cũng mời gọi chúng con: “Ai muốn theo tôi hãy bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo tôi” (Mc 8,34). Xin gia tăng lòng tin yêu trong chúng con, để chúng con cũng biết xả thân yêu thương mọi người, nhất là yêu thương phục vụ những người nghèo đói bệnh tật và đau khổ, hầu người đời nhìn thấy các việc lành chúng con làm, mà ngợi khen Chúa Cha trên trời và quyết tâm đi theo Chúa để sau này cũng được tham phần vào hạnh phúc muôn đời với chúng con.- Amen.

 

14. Thánh Giá Chúa Giêsu-Chiên Vượt Qua--Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ

Câu chuyện

Kinh Thánh là các văn bản thiêng liêng của nhiều niềm tin khác nhau, được viết trong giai đoạn hình thành của các niềm tin Do Thái và Kitô giáo; đây là các sách được các tác giả chép lại dưới sự linh hứng của Thiên Chúa trình bày chân lý mạc khải và mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân của Ngài.

Kinh Thánh là bộ sách gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử loài người, được dịch nhiều lần, sang nhiều ngôn ngữ hơn bất cứ sách nào khác. Kể từ năm 1815, có khoảng hơn 5 tỉ ấn bản Kinh Thánh trọn bộ hoặc các phần quan trọng của Kinh Thánh được phân phối, trở nên sách bán chạy nhất trong mọi thời đại.

Kinh Thánh bắt đầu bằng câu chuyện thi vị, mang đầy sức sống với trình thuật sáng tạo và sự sống tràn đầy sinh lực xuất phát từ Thiên Chúa, đã làm nên vũ trụ vạn vật trong đó có con người, mang hình ảnh của Tạo hóa, làm chủ thế giới (x. St 1 - 2). Thế rồi, hình ảnh đẹp, đầy sức sống đó bị mất đi và con người tản mát khi tự cắt đứt nguồn sống với Thiên Chúa do bất tuân bằng hình ảnh ăn trái cấm: Ađam và Eva nguyên tổ mất địa đàng, con người đi vào đau khổ và đi vào sự chết... (x. St 3). Con người bị tản mát chia ly với tháp Baben... Nhân loại tưởng chừng không thể cứu vãn vẫn sẽ mãi đi trong sự tăm tối của sự chết, sự đau khổ bởi hậu quả của tội... Kinh Thánh đốt lên ánh lửa hy vọng thật cho chúng sinh khi kết thúc và khép lại bằng một hình ảnh đẹp tràn đầy hồng ân, thu hợp nhân loại đi vào sức sống mới, sức sống vĩnh cửu như ban đầu của Tạo hóa, nhờ Chúa Giêsu Kitô - Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc nhân loại bằng cái chết và phục sinh, và tập hợp con người vào vương quốc sự sống trường sinh. Các môn đệ của Ngài loan truyền Tin Mừng ấy cho toàn nhân loại.

 

Thứ Sáu Tuần Thánh, toàn thể Giáo hội theo bước chân vác thánh giá và dừng lại ở dưới chân thánh giá, Giáo hội tưởng niệm Ðức Giêsu chịu hiến tế trên thập tự: Ngài là Chiên Vượt Qua - con chiên được đưa tới lò sát để làm hiến vật. Ngài đã chịu khổ nạn và chịu chết trên thập giá để đem ơn cứu độ đến cho chúng ta. Vì thế Giáo hội tôn kính thánh giá, vì thánh giá là biểu tượng của tình yêu Thiên Chúa tự hiến cho con người. Thánh giá là cây sự sống mới cho toàn nhân loại như kinh phụng vụ ca ngợi:

Ôi thập tự, phước lành thế giới

Nguồn cậy trông cứu rỗi tràn lan...

Chiêm ngắm hình ảnh Chúa Kitô vác thập giá, chúng ta được mời gọi cùng vác thập giá là tất cả những gì xảy ra trong cuộc sống như Chúa Giêsu đã mời gọi trước đó: “Hãy vác thập giá mình hằng ngày” (Lc 9,23). Và ngày hôm nay, từng giây phút trong cuộc đời, Đức Kitô vẫn còn đang cùng ta vác thánh giá tiến về đồi Canvê. Mọi sự đau khổ, mọi khốn khó, vấp ngã, con người đều nương trong thập giá.

Cuối hành trình tử nạn, trên thập giá Chúa Giêsu đã ôm trọn nỗi khổ đau của nhân loại, Ngài chia sẻ đến cùng những khắc khoải khốn cùng nhất của con người, và là niềm hy vọng của con người về lẽ sống... Người trộm lành cùng bị án treo thập giá với Chúa Giêsu đã nhận ra con đường sự sống và anh đã đặt niềm hy vọng vào Ngài, dù hiện thực anh đang cùng phải tủi nhục treo trên thập tự. Ước chi mỗi chúng ta cũng cảm nghiệm được sự sống này:

Sen tươi tỏa ngát hương trầm

Héo khô ôm ấp hạt mầm hoa sau

Bàn tay Tạo hóa diệu thay! (NĐC).

Sen khô héo nhưng ôm hạt mầm như là hình ảnh của Đức Kitô trong cuộc tử nạn đầy đau thương, Ngài chết để cho nhân loại được sống... Từ nơi thập giá trên đồi Canvê, chính lúc Đức Kitô trút hơi thở cuối cùng, là lúc sự sống bắt đầu nảy sinh cho con người bằng hình ảnh nước và máu trào dâng (x. Ga 19,34). Theo truyền thống Thánh Kinh, máu tượng trưng cho sự sống (x. Lv 17,11-12), nước chính là nước rửa tội đưa chúng ta tái sinh vào cuộc sống mới (x. Ga 3,5).

Đường thập tự Thầy, đường sự sống

Mỗi bước đi gieo một nụ hồng

Giang tay chết treo trên thập tự

Cứu người dương thế khỏi tử thần.

Sẽ luôn mãi là hình ảnh đẹp và tràn đầy sức sống: Thập tự giương cao trên đồi Canvê luôn vang vọng qua mọi thời mọi nơi: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13), một vị Thiên Chúa chết để cho con người sống: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1Ga 4,9).

Ý lực sống: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính” (1Pr 2,24a).

mục lục

 

15. Thập Giá Đức Kitô--‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’

Trong tập hồi ký, một người Do Thái từng ở trại tập trung thời Đức Quốc xã bên Ba Lan có kể lại câu chuyện sau: Những người lính Đức Quốc xã treo cổ hai người Do Thái và một thiếu niên trước sự chứng kiến của tất cả trại viên. Hai người đàn ông chết tức khắc vì kiệt sức, nhưng cơn hấp hối của cậu thiếu niên kéo dài cả nửa tiếng đồng hồ. Nhìn thấy cảnh tượng đó, một trại viên đứng sau tôi đã thốt lên: “Thiên Chúa đang ở đâu?”. Khi người thiếu niên đang cố gắng vùng vẫy trong vòng giây thắt cổ, tôi lại nghe một người khác thốt lên: “Bây giờ Chúa ở đâu?”. Và, tôi nghe từ tận đáy tâm hồn tôi: “Ngài đang ở đây, Ngài đang bị treo cổ kia”.

“Bây giờ Thiên Chúa đang ở đâu?”. Mỗi lần bóng tối của Thập giá làm dấy lên trong chúng ta câu hỏi như thế, chúng ta nghe vọng lên từ nỗi đớn đau của chúng ta câu trả lời duy nhất là: “Ngài đang có mặt đó”. Ngài đang có mặt đó, bởi vì Ngài là Tình yêu. Chỉ có Tình yêu mới có thể đi đến tận cùng của khoan dung và tha thứ. Thập giá vẫn mãi mãi là tột đỉnh của sự độc ác dã man của con người, sự độc ác dã man đó càng bộc lộ, thì tình yêu Thiên Chúa càng bày tỏ.

Lý luận thông thường không thể hiểu cạn được tại sao một Thiên Chúa lại có thể chịu treo trên Thập giá. Nhưng đó lại là sức mạnh, là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, bởi vì đó là sức mạnh và sự khôn ngoan của tình yêu. Dù tội lỗi con người có ngập tràn, dù sự độc ác của con người có chất ngất, Thiên Chúa vẫn yêu thương và tha thứ.

Thập giá không chỉ là biểu trưng của sự độc ác và tội lỗi con người, mà còn là vẻ đẹp của chính tình yêu Thiên Chúa. “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài. Ngài không sai Con Ngài đến để luận phạt thế gian, những để thế gian nhờ Con Một Ngài mà được cứu thoát”. Đó phải là xác tín của chúng ta khi ngắm nhìn Thập giá Chúa Giêsu. Thiên Chúa yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta còn là tội nhân. Thiên Chúa yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta khước từ. Không có tình yêu nào cao cả hơn.

Vì yêu thương chúng ta, Ngài chấp nhận chịu treo trên Thập giá. Vì yêu thương chúng ta, Ngài trải qua mọi khốn cùng của kiếp người. Không phải đinh sắt đã đóng Ngài vào Thập giá, mà chính là tình yêu. Đó là tất cả vẻ đẹp cao vời của Thập giá. Thập giá là nơi ngự trị của Thiên Chúa. Chính trong những nơi cơ cực, nghèo hèn, bỉ ổi và đớn đau nhất mà sự hiện diện của Thiên Chúa lại càng mãnh liệt hơn. Chính từ Thập giá mà tiếng gọi yêu thương của Ngài càng thắm thiết hơn.

Từ trên Thập giá, Chúa Giêsu ôm trọn từng nỗi khổ đau của con người. Nhìn ngắm Thập giá của Ngài, đôi mắt chúng ta càng phải mở rộng ra để nhận thấy bao nỗi thống khổ cơ cực của những người chung quanh. Lúc đó, Thập giá không còn vắng bóng Thiên Chúa mà trái lại là điểm xuất phát của những nghĩa cử yêu thương, từ đó tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ bừng dậy.

 

16.  Lạy Chúa, chúng con thờ lạy Thánh Giá Chúa!--ÐTC Gioan Phaolô II

(Buổi Ði Ðàng Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2002 (Ga 18,1-19,42)

1. Crucem tuam adoramus, Domine!  - Lạy Chúa, chúng con thờ lạy Thánh Giá Chúa!

Ở cuối của lời cầu xúc động này về cuộc Vượt Qua của Ðức Kitô, tia nhìn của chúng ta vẫn hướng về Thánh Giá. Chúng ta  trong đức tin mầu nhiệm cứu độ được mạc khải cho chúng ta. Khi chết đi, Ðức Giêsu vén lên bức màn trước mắt chúng ta, và giờ đây Thánh Giá đứng thẳng trên thế giới trong tất cả sự huy hoàng của nó. Sự yên lặng đem lại an bình của Ðấng mà sự dữ thế gian đã treo lên Cây này đang hé lộ ra hòa bình và yêu thương. Trên Thánh Giá, Con Người đã chết, mang theo với Ngài gánh nặng của mọi khổ đau và bất công nhân thế. Trên đồi Golgotha, Ðấng, mà qua cái chết của Ngài đã cứu rỗi thế giới, chết vì chúng ta.

2. "Họ sẽ nhìn ngắm Ðấng mà họ đã đâm thâu qua" (Ga 19,37).

Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh chứng kiến những lời các tiên tri được nên trọn, những lời mà Thánh Sử Gioan, một chứng nhân tận mắt, đã thấy được sự chính xác khi  trong lòng, Thiên Chúa làm người, Ðấng vì yêu thương đã chấp nhận hình phạt nhục nhã nhất mà bao nhiêu chủng tộc và các nền văn hóa ngày nay đang chứng kiến. Khi tia nhìn của họ được dẫn dắt bởi cảm nhận sâu sắc của đức tin, họ nhận ra trong Ðấng Bị Ðóng Ðinh một "chứng nhân" vô địch của yêu thương.

Từ Thánh Giá, Ðức Giêsu gom lại thành một dân tộc, Dân Do Thái và Dân Ngoại, hiển thị ý chí của Cha Ngài trên trời muốn tạo ra một gia đình duy nhất cho nhân loại được tụ họp dưới Danh Ngài.

Trong nỗi đau tê tái của Người Ðầy Tớ Thống Khổ, chúng ta đã nghe tiếng kêu khải hoàn của Thiên Chúa Trỗi Dậy. Ðức Kitô trên cây Thánh Giá là nhân loại mới đã được chuộc khỏi gánh nặng của tội lỗi và sự chết. Bất chấp những bóp méo và ngộ nhận của lịch sử, có thể có, chúng ta biết rằng nếu bước theo chân của Người Nazarét bị đóng đinh này, chúng ta sẽ đạt được mục đích. Giữa những xung đột của một thế giới thống trị bởi ích kỷ và thù hận, chúng ta, như những tín hữu, được kêu gọi để công bố vinh quang của Yêu Thương. Hôm nay, Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta làm chứng cho vinh quang của Ðức Kitô bị đóng đinh.

3. Lạy Chúa, chúng con thờ lạy Thánh Giá Chúa!

Vâng, chúng con thờ lạy Ngài, Lạy Chúa, Ðấng đã bị treo lên Thánh Giá giữa trời và đất, Ðấng Trung Gian duy nhất của ơn cứu độ chúng con. Thánh Giá Ngài là bích chương của vinh quang chúng con!

Chúng con thờ lạy Ngài, Con của Ðức Trinh Nữ Rất Thánh, đang đứng bất khuất bên cạnh Thánh Giá, can đảm chia sẻ trong lễ hy sinh cứu chuộc của Ngài.

Qua Gỗ Thánh Giá trên đó Ngài bị đóng đinh, niềm vui đã đến với toàn thế giới - propter Lignum venit gaudium in universo mundo. Hôm nay chúng con tất cả nhận thức hơn về điều này khi tia nhìn của chúng con được nâng về phía sự kỳ diệu khôn tả của sự Phục Sinh của Chúa. "Chúng con thờ lạy Thánh Giá Chúa, Lạy Chúa, chúng con tán tụng và thờ lạy sự Phục Sinh thánh thiện của Ngài!".

Với những tình cảm này, anh chị em thân mến, tôi gỡi đến anh chị em lời chúc Phục Sinh với phép lành Tòa Thánh.

+ Gioan Phaolô II, Giáo Hoàng

(Bản dịch Việt Ngữ của J.B Ðặng Minh An)

 

17. Sống cao đẹp, chết không cùng--Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Đời người, ai cũng chết, nghĩa là ai cũng sẽ một lần nhắm mắt xuôi tay. Từ giã bạn bè, người thân ra đi biền biệt. Cái chết là phận số của con người. Không ai mà không chết. Điều quan yếu là chết cách nào? Chết để người đời thương nhớ, lưu danh hay chết là niềm vui của xã hội vì đã loại được một người ăn bám xã hội và hại người.

Người ta nói nghĩa tử là nghĩa tận nhưng xem ra vẫn chưa tận. Vì sau cái chết vẫn còn những lời xì xầm bình loạn của thế gian. Lắm khi cái ác mà người chết gây ra quá lớn thì dẫu chết cũng chưa tận, trong nỗi đau đã khoét sâu trong lòng người sống, khiến số đông không cam lòng. Và, chỉ có thể là “tận nghĩa” giữa cuộc tiễn đưa vắng bóng người, thậm chí không có nước mắt tiếc thương.

Có lẽ nhiều người cũng sợ cái chết của mình chưa tận với miệng lưỡi thế gian, nên trang mạng Facebook đang lan truyền ứng dụng Sát Thủ- chết bất hủ. Sát thủ – chết bất hủ là một ứng dụng dự đoán vui về kết thúc cuối đời của người tham gia. Những lý do chết mà ứng dụng tiên đoán đều khiến người xem bật cười ngay lần đọc đầu tiên. Kiểu như Chết cháy vì táy máy vào ổ điện, Ngủm vì ngửi phải mùi thum thủm, Chết vì nghĩa tình đã hết, Ra đi vì vợ nghi cặp bồ, Thăng vì rụng hết răng không ăn được, Nghẻo vì trèo cây cao, Thăng vì quá lăng nhăng...

Thực ra chết cách nào không quan trọng mà là sống thế nào để khi chết vẫn còn có người thương nhớ. Người chết không “tận” nơi người sống mà họ vẫn ở lại trong trái tim người sống về những hình ảnh yêu thương phục vụ của người ra đi. Họ đã sống đẹp cho đời thì hình ảnh đẹp ấy vẫn được người đời muôn đời ca tụng.

Con người và cuộc đời Chúa Giê-su dường như không kết thúc. Ngài vẫn sống trong lòng nhân loại dầu Ngài đã hiến tế cuộc đời trên đồi Golgotha cách đây hơn 2000 năm. Ngài vẫn ở lại trong trái tim từng người vì Ngài đã hiến dâng mạng sống mình vì loài người chúng ta.

Nhìn vào cuộc đời của Chúa Giê-su chúng ta chỉ thấy hai chữ hy sinh. Ngài hy sinh nên nhập thể làm người. Ngài hy sinh nên dong ruổi suốt dọc dài đất nước Palestine để thi ân, để cúi xuống phục vụ mọi mảnh đời khổ đau. Sự hy sinh của Ngài nên tới đỉnh điểm là chết cho người mình yêu. Ngài có thể tháo lui trước nhục hình. Ngài có thể từ chối uống chén đắng vì Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã dùng cái chết để mở ra cho nhân loại một con đường về với trời cao. Ngài chết để minh chứng về Chúa Cha, và vì vâng phục Chúa Cha mà Ngài bằng lòng chịu chết. Sự chết của Ngài đã giao hòa con người với Thiên Chúa Cha, để từ nay nhờ hiến tế của Con Thiên Chúa mà con người được trở về nhà Cha.

Hôm nay chúng ta suy tôn thánh giá Chúa. Suy tôn tình yêu tự hiến hy sinh của Chúa. Nhờ hiến tế trên đồi Calve mà con người được sống trong ân nghĩa cùng Chúa Cha. Trong Phúc âm ghi lại: “Họ sẽ nhìn ngắm Ðấng mà họ đã đâm thâu qua” (Ga 19,37). Ngắm nhìn xem Đấng đã bị đâm thâu để thấy tình yêu hiến dâng đến quên cả tính mạng cho người mình yêu. Ngắm nhìn xem Đấng đã bị đâm thâu để thấy mình cũng có trách nhiệm trong cuộc thương khó của Chúa, trong nỗi đau của anh chị em mình. Ngắm nhìn Đấng đã bị đâm thâu để biết sống bù đắp những lỗi lầm của mình đã và đang gây đau khổ cho anh chị em mình.

Nguyện xin Đức Giêsu, Đấng đã chết và đã phục sinh giúp chúng con mỗi lần ngắm nhìn Chúa biết giục lòng ăn năn thống hối và can đảm đứng lên làm lại cuộc đời. Xin cho cuộc đời chúng ta sẽ mãi không “tận” trong lòng anh em, mà sống mãi trong mọi người nhờ những hy sinh đóng góp của chúng ta. Amen.

 

18. Người chết vì yêu--Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Con người sống phải yêu. Yêu là hơi thở, là lý do sống của con người. Có tình yêu thì cuộc đời mới đáng sống, cho dẫu phải trải qua đau thương, tan nát, sầu phiền… Vì yêu mà con người sẵn lòng nếm trải những đắng cay muộn phiền. Thế nên, có ai đó đã nói rằng:

“Yêu là một loại cảm nhận, dù có thống khổ vẫn cảm thấy hạnh phúc.

Yêu là một loại nhận thức, dù có tan nát cõi lòng nhưng vẫn cảm thấy ngọt.

Yêu là sự từng trải, dù có bị nghiền nát vẫn cảm thấy tươi đẹp.”

Có một cô gái đã kể với tôi như sau:

“Bạn con, 25 tuổi lấy chồng, 27 tuổi sinh đứa con đầu lòng, 31 tuổi xây nhà.

Cuộc đời cô ấy diễn ra luôn được hoạch định trước. Năm nay làm gì, sang năm mua gì. Mọi thứ đều được nằm trong kế hoạch lên sẵn ý tưởng.

Nhưng cuộc đời đâu mãi là màu hồng. 3 tháng trước, cô ấy đi khám thai lại phát hiện mình bị ung thư. May mắn là bệnh mới ở giai đoạn đầu, nghĩa là cô ấy có khả năng kéo dài sự sống. Điều lạ là con đến thăm cô ấy luôn lạc quan yêu đời và còn đùa rằng: “Thế là tao tránh được nỗi lo tuổi già rồi. Không sợ xấu, sợ nhăn nữa…. Bệnh tật, vốn không nằm trong toan tính của đời người. Nhưng tao vẫn yêu, vẫn vui để bé ra đời trong hạnh phúc ngay từ trong trứng nước”.

Tình yêu đã chiến thắng khổ đau. Tình yêu còn mang dáng vẻ của sự bất tử. Cô gái trên đang mang trong mình hoa trái của tình yêu, điều đó đã khiến cô luôn vui tươi lạc quan ngay cả khi bị bệnh tật. Tình yêu giúp cô tận hiến cả bản thân đến nỗi quên đi cái đau của bệnh tật để sống vì mầm sống tương lai.

Cuộc đời không bao giờ theo ý ta mong đợi. Đôi khi cái xui, cái khổ, cái đắng cay cứ theo nhau chồng chất lên cuộc đời ta. Điều quan trọng là ta phải sống có mục đích, có lý tưởng, có tình yêu để vượt thắng tất cả hầu đạt được mục đích của mình.

Hôm nay chúng ta chiêm ngắm hành trình cuộc thương khó của Chúa Giê-su như là mẫu gương cho cuộc đời chúng ta. Ngài đã đi vào cuộc thương khó trong chén đắng với lời xin vâng theo thánh ý Chúa Cha. Mục đích của Ngài đến trần gian là để cứu độ nhân gian. Lý tưởng của Ngài là trở nên mọi sự cho mọi người. Tình yêu của Ngài dành trọn vẹn cho Thiên Chúa Cha. Thế nên, cuộc thương khó là “giờ” của tình yêu mà Ngài sẽ bày tỏ với Chúa Cha. Ngài vẫn hằng mong mỏi giờ này để tôn vinh Chúa Cha. Ngài từng nói vì “giờ” này mà tôi đã đến thế gian.

Cuộc đời sẽ đẹp biết bao nếu mỗi người đều chọn sống cho tình yêu và vì tình yêu. Cách sống vì tình yêu sẽ mang lại cho người mình yêu niềm vui và hạnh phúc. Cách sống cho tình yêu sẽ mang lại cho đời những nghĩa cử cao đẹp khi cống hiến cho người mình yêu.

Xin cảm ơn tình yêu cao vời của Thầy Giê-su mà nhân loại được giao hòa với Chúa Cha và được trở nên con cái Ngài.

Xin cám ơn tình yêu hy sinh một nắng hai sương của cha mẹ mà con cái được no đầy hạnh phúc, yêu thương.

Cảm ơn tình yêu của những đôi vợ chồng son sắt thủy chung luôn chia sẻ ngọt bùi với nhau trong mọi thăng trầm cuộc đời.

Xin cám ơn tình yêu của những tông đồ nhiệt thành đang phục vụ Giáo xứ, phục vụ Cộng đoàn mà chẳng cần đền đáp.

Tất cả những tình yêu hy sinh ấy đã tô đẹp cho cuộc đời. Tất cả những tình yêu hy sinh ấy đã mang lại cho đời hương thơm của hạnh phúc để làm vơi đi những gánh nặng khổ đau.

Xin Chúa là tình yêu giúp chúng ta biết sống theo gương Chúa luôn sống cho tình yêu và dâng hiến cho tình yêu. Xin cho chúng ta biết chết đi cái tôi của mình để sống cho người mình yêu. Amen!

 

19. Tiếng nói của tình yêu thương--Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Nếu như người ta vẫn nói trái tim có lý lẽ của nó, thì chúng ta cũng có thể nói: Tình yêu cũng có ngôn ngữ riêng của nó. Ngôn ngữ của tình yêu không chỉ là những lời lẽ ngọt ngào, mà còn là những ngôn ngữ không lời, những dấu chỉ không thành tiếng. Ngôn ngữ của tình yêu, không chỉ được nghe bằng tai, mà còn bằng sự cảm nhận của trái tim, ngắm nhìn bằng con mắt và tiếp xúc bằng các giác quan.

Có thể nói bầu khí phụng vụ của ngày Thứ sáu Tuần thánh mang những màu sắc và cung điệu trầm buồn, nhưng trong sự trầm lắng này, chúng ta như có thể nghe được tiếng nói và đụng chạm được đến tình yêu của Thiên Chúa qua cuộc tử nạn đau thương của Chúa Giêsu.

Có những người cho rằng, phải chăng cái ác và sự bất công luôn thắng thế? Phải chăng Thiên Chúa cũng chịu thua trước sức mạnh của ma quỷ và sự dữ? Tại sao một Thiên Chúa vô tội lại phải chịu một bản án bất công như vậy? Chúng ta sẽ không thể trả lời được bằng những lý lẽ thông thường, mà chỉ có thể trả lời rằng: Thiên Chúa có cách riêng của Ngài để bày tỏ tình yêu thương đối với con người.

Tiên tri Isai đã thấy trước và đã nói về Chúa Giêsu trong hình ảnh của một người tôi tớ chịu đau khổ. Người tôi tớ này một mực trung thành với Thiên Chúa. Nhìn dáng vẻ bề ngoài, người ta chỉ có thể thấy một gương mặt tan nát, một thân xác tả tơi vì bị hành hạ. Ngài hoàn toàn im lặng đón nhận tất cả sự xỉ nhục, hành hạ của kẻ dữ mà không buông một lời oán trách. Ngài đón nhận tất cả tội vạ của muôn dân, gánh chịu muôn nhục hình do tội nhân loại. Bị ngược đãi, Ngài không mở miệng phản kháng, giống như chiên cừu khi bị xén lông. Tiên tri Isai cho thấy, Người Tôi tớ của Thiên Chúa chịu tất cả những hành hạ ấy, chỉ vì một lòng hiếu trung với Thiên Chúa, để cho Thiên Chúa được vinh danh và để đem lại sự sống và ơn tha thứ cho nhân loại.

Hình ảnh Người Tôi Trung đã ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu và được thánh Gioan thuật lại trong bài thương khó hôm nay. Có người đặt vấn đề: Chúa Giêsu có thể tránh cuộc khổ nạn và dùng cách khác để cứu chuộc nhân loại không? Chắc chắn Chúa có thể dùng cách khác để cứu chuộc nhân loại, nhưng Chúa đã không tìm cách tránh né. Ngài đối diện và đón nhận thập giá với lòng yêu mến, vâng phục tuyệt đối dành cho Thiên Chúa Cha và tình yêu vô hạn dành cho con người, là những kẻ được Chúa yêu thương.

Trong cuộc khổ hình thập giá, Chúa Giêsu không chỉ đau khổ thể xác bởi sự hành hạ dã man của những tên lính, thánh Gioan còn cho thấy, Chúa Giêsu vô cùng đau khổ trong tâm hồn bởi những người Ngài thương yêu đã gây tổn thương cho Ngài. Ngay từ bữa tiệc ly tối hôm qua, Chúa đã thể hiện tình yêu đến cùng dành cho các môn đệ, qua việc trao ban chính con người và mạng sống để làm của ăn của uống cho nhân loại. Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các tông đồ để thể hiện tình yêu thương và dạy các ông bài học phục vụ. Trong lúc đó, các tông đồ dường như không quan tâm, họ tỏ ra dửng dưng trước hành động của Chúa Giêsu và quay sang bàn với nhau về chuyện khác.

Tiếp đến, Chúa Giêsu đau đớn với tâm trạng bị phản bội bởi kẻ Ngài yêu thương là Giuđa. Ngài đã tin tưởng anh, đã yêu thương anh như những môn đệ khác, vậy mà giờ đây, chính anh lại đưa các thượng tế và quân lính đến bắt Thầy mình. Anh đã trở thành kẻ chỉ điểm để người ta bắt Thầy, anh đã lấy cái hôn làm dấu chỉ để phản bội Thầy. Người ta chỉ hôn nhau khi thể hiện tình yêu thương, nhưng Giuđa lại dùng cái hôn để làm dấu chỉ phản bội. Cái hôn ấy chẳng khác gì cái tát vào mặt Chúa Giêsu.

Không chỉ sự phản bội của Giuđa gây đau khổ trong tâm hồn Chúa Giêsu, các tông đồ khác cũng không khá hơn. Các ông trước đây có người từng thề sống thề chết với Thầy, thì giờ đây, chỉ một chút sợ hãi, các ông đã bỏ trốn hết. Simon Phêrô là người được Chúa tin tưởng đặt làm đầu trong anh em, ông chỉ dám đi theo Chúa xa xa vì sợ liên lụy. Khi thử thách đến, Phêrô đã không ngại ngần từ chối mối liên hệ của mình với Thầy Giêsu, Đấng đã yêu thương ông.

Một đau khổ khác mà Chúa Giêsu phải chịu, đó là sự vô ơn và vô cảm của đám đông. Trong những người la hét đòi đóng đinh Chúa, không thiếu những kẻ mới mấy ngày trước họ hoan hô, vỗ tay reo mừng khi Chúa vào thành Giêrusalem, tung hô Ngài là con vua Đavít. Thế mà trước dinh Philatô, họ đã trở mặt và tuyên bố: Chúng tôi không có một vua nào khác ngoài Cesare.

 Trong lúc chịu đau khổ cùng cực trong tâm hồn và thể xác, chúng ta nhận thấy lòng thương xót của Chúa Giêsu vẫn tuôn trào qua hành động đón nhận tất cả những cực hình và qua ánh mắt yêu thương, tha thứ của Chúa. Trong lúc quân dữ đang hùng hổ tìm bắt Chúa, Chúa Giêsu hết sức ôn tồn, bình tĩnh bước ra gặp chúng và hỏi: Các anh tìm ai? Nó đáp: Tìm Giêsu Nazareth. Ngài đáp: Chính tôi đây. Một lời nói với đầy sức mạnh và uy quyền đã khiến chúng bật ngã ra đàng sau. Lúc chúng ra tay bắt Chúa, Đức Giêsu đã không nghĩ đến mình, nhưng Ngài nghĩ đến các tông đồ và nói với chúng: Nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để những người này đi.

Lúc dân chúng tố cáo Chúa Giêsu trước mặt các Thượng tế về các bài giảng của Ngài, Chúa Giêsu đã không lên tiếng biện hộ cho mình, nhưng Ngài nghĩ đến các tông đồ và nói với những kẻ tra hỏi Người: Tôi giảng dạy công khai trong đền thờ, tôi không nói gì lén lút cả, xin các ông cứ hỏi những người đã nghe tôi, chính họ biết tôi đã nói gì. Thánh Gioan đã tinh tế cho thấy: Trong khi trong dinh thượng tế, Chúa Giêsu vẫn hết lòng tin tưởng và yêu mến những kẻ Ngài đã tuyển chọn, thì bên ngoài, Phêrô, kẻ được Ngài tuyển chọn, lại công khai từ chối Chúa tới ba lần trước mặt một đứa đầy tớ gái. Lúc này, tình yêu thương của Thiên Chúa đã thể hiện qua cái nhìn của Chúa Giêsu. Ánh mắt yêu thương của Chúa đã gặp được ánh mắt sợ hãi, phản bội của Phêrô, khiến cho Phêrô cảm thấy ân hận suốt đời trước một tình yêu quá lớn lao.

Trước dinh Philatô, Chúa Giêsu cảm nhận sâu xa và đau đớn vô cùng bởi sự bội bạc, vô ơn của đám dân chúng. Họ đã chọn đứng về phía sự ác và sự dữ khi đòi tha Baraba và giết Giêsu. Họ công khai từ chối thẩm quyền của Thiên Chúa để quy phục quyền bính của một ông vua đang đô hộ họ. Những người Do Thái đã rắp tâm loại trừ Chúa Giêsu và họ đã tìm mọi cách gây áp lực để đạt được ý đồ gian ác của họ. Khi Chúa Giêsu phải vác thập giá trên vai, bước đi những bước nhọc nhằn, thì quân lính và dân chúng hả hê, thỏa mãn vì đã đạt được mưu đồ của họ là vùi dập một con người cho đến chết. Cái ác dường như thắng thế, công lý dường như bất lực, Thiên Chúa dường như cũng im lặng trước khổ đau của Chúa Giêsu. Nhưng trong khung cảnh tối tăm của sự ác ấy, ánh sáng của tình yêu vẫn không hề bị dập tắt.

Thánh Gioan, vị tông đồ được Chúa yêu, đã cảm nhận được sự đau khổ và tình yêu của Chúa qua hành trình thập giá. Mỗi bước đi, mỗi chặng dừng, từ dinh Thượng tế Anna đến Caipha, từ dinh Philatô đến dinh Herode và từ dinh Philatô đến cái chết thảm thương trên thập giá đồi Calvariô, là một chặng đường dài của lòng xót thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Nếu chỉ nghe hoặc xem lại cuộc thương khó của Chúa, chúng ta sẽ chỉ thấy một cuộc hành hình bất công, đầy hung ác, tàn bạo và máu me. Nhưng nếu chúng ta nghe bài thương khó này bằng trái tim và bằng sự cảm nhận của tâm hồn, chúng ta sẽ được đụng chạm đến tình thương của Thiên Chúa. Và, nếu chúng ta lắng nghe cuộc thương khó của Chúa trong thinh lặng, để cho trái tim mở ra, chúng ta sẽ nhận ra hình ảnh và trách nhiệm của mình có liên quan trong cuộc hành hình này.

Cuộc thương khó của Chúa Giêsu mà chúng ta  chiều nay là cách thức Thiên Chúa nói với con người về một tình yêu bao la, về lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa dành cho con người. Với tiếng nói tình yêu này, chúng ta không chỉ nghe bằng tai, nhưng xin cho trái tim của chúng ta cũng biết lắng nghe, biết mở ra để cho lòng thương xót của Chúa đổ tràn trong chúng ta. Xin cho chúng ta đừng bao giờ biến mình trở thành kẻ dửng dưng vô tình trước tình yêu của Chúa và cũng đừng bao giờ đóng cửa trái tim trước nỗi khổ đau của anh chị em. Amen.

mục lục

 

20. Suy niệm thứ sáu tuần thánh--Lm. Giuse Trực

Con là ai trong hành trình thương khó của Chúa?

Con có phải là những Thượng tế, những biệt phái và Pharisêu muốn tiêu diệt Chúa để đừng làm phiền, đừng ai nhắc nhở những sai trái của con không?

Con có phải là dân chúng bàng quang, hoặc có tâm lý hùa theo đám đông mà không dám nói lên chính kiến của mình, để sẵn sàng làm ngơ hoặc hùa theo để kết án người khác?

Con có phải là những tên lính đã đánh đòn, đóng đinh, hành hạ Chúa cho hả cơn giận của con, mặc dù con biết Chúa không có tội gì. Có những bực bội, bức bối gì, về nhà con đổ trên đầu những người thân mà con có vẻ “trên cơ’’ họ?

Con có phải là những người phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương chỉ vì tội nghiệp Chúa chứ chưa biết phải làm sao để cho Chúa hết đau?

Con có phải là tên trộm oán trách cuộc đời và thách thức Chúa: “Ông là con Thiên Chúa thì tự cứu mình và cứu chúng tôi với”?

Hay con là Simon sẵn sàng vác lấy thánh giá Chúa bằng cách san sẻ nỗi đau với người khác?

Hay con là Đức Mẹ, mạnh dạn, can trường bước theo con đường đau khổ của Chúa, không một vẻ yếu nhược, không một lời than thở, không một chút kêu than?

Hay con là Gioan đón lấy sứ mạng của Chúa để sẵn sàng hiến thân mình cho những chương trình, hoạch định của Chúa?

Có lẽ, lạy Chúa, xin cho con giống như viên đại đội trưởng: “Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 23, 47). Đã biết bao lần con ngước nhìn lên Chúa bị đóng đinh, nhưng con đã xác tín niềm tin vào Chúa chưa? Câu hỏi này tiếp tục vang vọng trong tâm hồn con. Vang mãi, vang mãi cho đến chết.

 

21. Buổi chiều thinh lặng thánh--Jos. Vinc. Ngọc Biển SSP

(Is 52, 13-53, 12; Dt 4, 14-16; 5, 7-9; Ga 18, 1 - 19, 42)

Hỡi không gian rủ sương mù ngàn mây hỡi hãy che khắp trời cao. Ánh kim ô vụt lu mờ. Vì thương Chúa gánh muôn nỗi khổ đau” (Giờ tử nạn, Lm. Hoài Đức). 

Với những lời hát rất sâu lắng ấy, tác giả đã dẫn đưa chúng ta đi vào tâm tình của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh trong thinh lặng.

Thinh lặng để thấy, hiểu, để cảm nghiệm và để thay đổi lối sống cho phù hợp với những gì tốt lành mà mình đã thấy, hiểu và cảm nghiệm.

Thinh lặng còn làm cho chúng ta đi vào tâm tư của người khác để cùng họ sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn.

1.    Thinh lặng để thấy

Cũng vậy, trong cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, chúng ta rất cần sự thinh lặng để sống những tâm tình vừa nêu ở trên!

Trước tiên, thinh lặng để thấy: thấy Đức Giêsu là Đấng rất thương những người nghèo khổ, những người thấp cổ bé họng, người ốm đau bệnh tật. Từ đó, Ngài không thể lặng im khi những điều đó xảy ra với con người dưới những chiêu bài “đánh lận con đen” khi nhân danh tôn giáo, đạo đức, người nghèo để làm khổ nhau.

Ngài không chỉ lên tiếng gián tiếp, nhưng Ngài đã “chỉ mặt đặt tên” nơi những con người có tâm đen tối. Ngài không chỉ nói mà còn hành động. Ngài không sợ chết mà ngược lại, sẵn sàng lấy mạng sống của mình bảo vệ những người bị ngược đãi để đổi lấy sự công bằng.

Chính vì thái độ và lựa chọn của Đức Giêsu như vậy, nên chúng ta thấy Ngài đã bị những người Pharisêu, Kinh Sư, Thượng Tế ghét bỏ và tìm mọi cách để hạ sát. Với họ, Đức Giêsu chính là cái gai trong mắt, cái đó ngáng đường. Họ luôn coi Ngài là thành phần nguy hiểm, cần phải loại trừ ra khỏi xã hội.

Như vậy, chúng ta dễ dàng nhận thấy phản ứng chống lại Đức Giêsu của những nhà lãnh đạo Dothái thời bấy giờ rất gắt gao do những nguyên nhân như: ghen tương, thù hận, gian dối, kiêu ngạo.

Bên cạnh đó, chúng ta còn nhìn thấy thái độ hoang tưởng và vụ lợi của Giuđa; sợ hãi của Phêrô cũng như các môn đệ khác; sự thay trắng đổi đen của dân chúng; sự hèn nhát, nhập nhằng của Philatô….

Trên đây là những điều chúng ta thấy được qua cuộc thương khó của Đức Giêsu.

2.    Thinh lặng để hiểu

Khi đã thấy được nguyên nhân dẫn đến cái chết của Đấng Cứu Thế, giờ đây, chúng ta cùng nhau thinh lặng để hiểu về cuộc thương khó này dưới cái nhìn cứu độ.

Trong cuộc thương khó của Đức Giêsu, chúng ta thấy có hai tên trộm: một người được gọi là thánh trộm lành; một người phải gọi là kẻ trộm dữ. Tại sao vậy? Thưa, đơn giản là người trộm lành đã biết lắng nghe và hiểu được Đức Giêsu là ai! Đặc biệt, trong thinh lặng, anh ta còn nhận ra tội lỗi của mình để xin Chúa tha thứ. Còn tên trộm dữ đã không biết lắng nghe, ngược lại, hắn không ngớt chửi rủa và trách móc Đức Giêsu cũng như những kẻ đóng đinh hắn. Hắn không hiểu được ý nghĩa của cái chết nơi Đức Giêsu, vì thế, hắn đã tự mình đánh mất “phao cứu sinh” cuối cùng của cuộc đời đầy tội lỗi. Và như một lẽ tất yếu, hắn đã phải chết như một kẻ xa lạ với ơn cứu chuộc mà Đức Giêsu mang lại qua cái chết của Ngài.

Cũng như người trộm lành, qua cuộc thương khó của Đức Giêsu, chúng ta hiểu được rằng: tình yêu của Thiên Chúa là vô hạn. Tình yêu ấy đã đi bước trước để đến với nhân loại qua việc trao ban chính Con Một, để những ai tin vào Con của Người thì được sống và sống dồi dào.

Đến lượt Đức Giêsu, tình yêu ấy được nở hoa cứu độ ngay trên thập giá, bởi vì: “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu”.

Như vậy, chỉ trong thinh lặng, chúng ta mới có thể nhận ra và cảm nghiệm sâu xa về cái chết của Đức Giêsu là vì tình yêu, đồng thời, qua đó, chúng ta sẽ nhìn thấu tội lỗi của chính mình và của nhân loại, ngõ hầu ăn năn, sám hối, để  được đón nhận ơn tha thứ từ mầu nhiệm khổ nạn của Đức Giêsu.

3.    Thinh lặng để đổi thay

Từ những gì đã thấy, đã hiểu, đã cảm nghiệm, có lẽ mỗi người chúng ta đều có với nhau một mẫu số chung, đó là: bất bình, lên án những người đương thời với Đức Giêsu vì sự ác tâm, thất đức của họ, khiến Đức Giêsu phải chết một cách đau thương tức tưởi như vậy!

Tuy nhiên, trong thinh lặng sâu lắng, chúng ta cũng nên làm một cuộc cật vấn lương tâm tận đáy lòng mình, để xem thử mình có liên quan gì đến cuộc thương khó của Đức Giêsu không?

Xét về mặt khách quan bên ngoài như địa lý, thời gian và đối tượng, có lẽ chẳng thể nào tìm ra được một ai có những hành động trực tiếp với Đức Giêsu như những người Pharisêu, Kinh Sư và Thượng Tế khi xưa. Nhưng, xét về sự liên đới tâm linh, chắc chắn chúng ta không thể vô can nếu không muốn nói là tàn ác chẳng thua kém những kẻ gây nên cái chết của Đức Giêsu, thậm chí còn nặng hơn nữa!

Thật vậy, nhiều khi chúng ta sống thực dụng, ham tiền, hám lợi và chuộng danh vọng, những lúc như vậy, chúng ta đâu khác gì các môn đệ của Đức Giêsu khi các ông tranh giành chỗ nhất - nhì trong vương quốc mà họ tưởng chừng Đức Giêsu sẽ lập chốn trần gian!

Lại nữa, sự phản bội, vô ơn và sống hai mặt, nhiều khi lại là lựa chọn chủ đạo của chúng ta trong đời sống. Khi lựa chọn những thứ đó làm nền tảng cho đời sống của mình, chúng ta đâu khác gì Giuđa!

Rồi có lúc vì sợ mất chức, mất quyền, hay nhát đảm, nên đã không dám tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa, nhiều khi chúng ta cũng từ chối thuộc về Chúa khi không dám đứng về phía sự thật để làm chứng cho chân lý. Những lúc như thế, hình ảnh, thái độ và lựa chọn của Philatô và Phêrô lại hiện lên thật rõ nét trong từng hành vi và lời nói của chúng ta!

Cuối cùng, đám đông dân chúng khi xưa do thiếu hiểu biết, nên đã bị giới lãnh đạo tôn giáo “giật dây”, vì thế, họ đã phản bội Đức Giêsu. Mới ngày nào họ muốn tôn Ngài làm Vua. Sự kiện đó chỉ cách hôm nay có mấy ngày, họ đã long trọng đón Vị Vua ấy vào thành với tư cách là Đấng Thiên Sai, là Vua Israel. Miệng họ cũng đã từng tung hô vang trời lở đất để đón Chúa vào thành. Tuy nhiên, ngày hôm nay, họ đã thay đổi hoàn toàn!

Nhiều khi chúng ta cũng vì cái bụng mà sẵn sàng gian lận, đổi trắng thay đen, hay đã có những lần ta tìm mọi cách kéo Chúa về với phe ta, mặc dù biết những việc ta làm là sai trái…. Hoặc nhiều khi chúng ta cũng sống theo kiểu a dua với đám đông: “Ai sao tôi vậy, ai làm bậy tôi cũng làm theo!”.

Đôi khi chúng ta cũng nhân danh Chúa để làm những điều khuất tất, hoặc lấy Chúa làm bình phong cho những trái khuấy của mình! Lúc không được như ý muốn, chúng ta cũng phản bội Chúa bằng việc quay lưng lại với Ngài khi sẵn sàng tôn thờ một ngẫu tượng nào đó thay cho Chúa. Không còn lấy Lời Chúa làm kim chỉ nam cho cuộc đời mình, ngược lại, chúng ta đã lấy lời của những thày bói, thày mo và cô đồng….

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết noi gương trung thành, yêu mến và can đảm của Đức Mẹ; người “môn đệ được Đức Giêsu yêu mến”; những phụ nữ Giêrusalem; bà Verônica; ông Simong và những người đạo đức khác…. Đồng thời, khi suy tôn Thánh Giá Chúa Giêsu, chúng ta hãy học bài học vâng phục và yêu mến của Đức Giêsu với Thiên Chúa Cha cách tuyệt đối cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập tự. Từ đó, mỗi người sẽ tiếp bước trên con đường tình yêu ấy cách trung thành để đến với tha nhân như lời Đức Giêsu đã nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta”.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa khai trí mở lòng, để chúng con hiểu thấu được tình yêu mà Chúa dành cho chúng con qua mầu nhiệm thập giá. Xin cho chúng con dám cam đảm nói lên lời: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích gì?” Từ đó, chúng con biết trung thành, can đảm để thuộc trọn về Chúa và sẵn sàng làm chứng về Ngài trong mọi hoàn cảnh. Amen.

 

22. Nghịch lý của Thánh Giá--Jos. Vinc. Ngọc Biển SSP

Buổi chiều hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Đức Giêsu chịu chết để chuộc tội thiên hạ. Buổi chiều hôm nay là “giờ” của Thiên Chúa Cha đã định, và cũng là “giờ” của Đức Giêsu hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại; “giờ” của người Tôi Trung mà tiên tri Isaia đã loan báo. “Giờ” đó được hoàn tất trên Thánh Giá. Vì thế, phụng vụ chiều hôm nay đều quy chiếu về Thánh Giá Đức Kitô như một sợi chỉ xuyên suốt từ đầu đến cuối.

 1.- Nghịch lý của Thánh Giá

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã nói: Đức Giêsu Kitô đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự (x. Pl 2,8); và Ngài đã chết theo như lời Thánh Kinh (x. 1Cr 15,3).

Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá đã là nguyên nhân để nhiều người được cứu độ, nhưng cũng không thiếu những kẻ cứng lòng, cố chấp và trai lỳ trong ích kỷ, kiêu ngạo. Những người như thế, họ coi đó như là hình phạt mà Đức Giêsu là người đáng phải chịu do tội mình gây nên.

Thật vậy, khi thập giá được dựng lên, và khi Đức Giêsu chịu treo trên đó, đã không biết bao người tin theo và suy tôn. Tuy nhiên, cũng không thiếu những lời chê bai dè bửu và khinh thường. Họ coi thập giá như là thứ đồ tể đáng sợ để trừng phạt những tử tội oái oăm, khét tiếng và nguy hiểm… Suy nghĩ như thế, thì cái chết của Đức Giêsu không có công trạng gì, mà chỉ như là một hình phạt đích đáng được dành cho một kẻ đã từng bị kết án vì tội “sách động dân chúng; tìm cách lật đổ chế độ và nói lời phạm thượng”. Và, những người theo Đức Giêsu phải chăng họ là bọn người cuồng tín khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một kẻ bị treo trên cây gỗ như một tử tội!

Thật vậy, thập giá của Đức Giêsu hôm nay được tôn vinh, đã làm không ít người cảm thấy ngỡ ngàng, bởi vì xét theo người đời, thì đây chính là sự ô nhục, hận thù, đáng ghét… là biểu tượng của sự chết chóc và thập giá vẫn chỉ là dụng cụ ghê rợn được dùng để sử tử tội nhân mà thôi.

Nhưng đối với Thiên Chúa, thì đây chính là sự khôn ngoan khôn dò thấu của Người. Thánh Phaolô đã nói: “Con Thiên Chúa chết trên thập giá là một trong những đường lối khôn ngoan sâu thẳm mà không một ai dò thấu” (x. Rm 11,33). Bởi vì Thiên Chúa đã dùng thập giá như một sự nghịch lý để cứu độ con người.

Thực ra thập giá luôn mang tính nghịch lý, bởi vì nó tuyên dương quyền năng thượng trí của Thiên Chúa ở nơi mà người đời coi là điên rồ.

Nhưng với những người tin, hẳn sự cảm nghiệm, suy nghĩ và thái độ hoàn toàn ngược lại. Những người đó sẽ coi thập giá trở thành Thánh Giá và Thánh Giá lúc này trở thành phương dược, để qua đó Đức Giêsu chuộc tội thay con người và cứu độ nhân loại.

Nếu xưa kia trong vườn Địa Đàng, Ađam đã ngã gục trước Cây Trái Cấm, và gieo rắc tội lỗi cho nhân loại, thì giờ đây, trên cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì mà Ađam đã đánh mất và để lại hậu quả cho nhân loại.

Như vậy, từ Cây Trái Cấm, sự chết đã tiêu diệt thế gian, và Trái Cấm là rào cản lớn đến độ con người không thể vượt qua, thì giờ đây, từ cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì đã mất do Nguyên Tổ gây nên và mặc cho nó thành cây Sự Sống, quả Phúc Trường Sinh.

Chính Đức Giêsu đã khẳng định rõ điều này khi nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 32). Vì thế, không lạ gì khi thánh Phaolô đã khẳng khái tuyên xưng niềm tin và ơn cứu chuộc của mình nơi Thánh Giá, ngài nói: “Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa […] Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin. Trong khi người Dothái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hylạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Ðấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Dothái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. (nhưng) cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (x. 1Cr 1,18-25).

Vì thế, “Nhờ máu Người đổ ra trên Thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20).

2. Đón nhận Thánh Giá như nguồn ơn cứu rỗi

Cuộc đời của người Kitô hữu, tức là cuộc đời của những người tin và theo Đức Giêsu, hẳn mỗi người luôn nghe thấy lời mời gọi của Ngài: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì? “ (Mc 8,34-36); và: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).

Lời mời gọi đó đã được gióng lên ngày chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội cũng như suốt cuộc đời của mỗi người chúng ta. Như vậy, Thánh Giá trở nên cứu cánh và việc vác Thánh Giá trở thành điều kiện cần của chúng ta trên hành trình dõi bước theo Đức Giêsu.

Thánh Giá mà mỗi chúng ta phải vác ở đây chính là bổn phận phải chu toàn; là từ bỏ những thứ không cần thiết trên hành trình tin Chúa; là từ bỏ ý riêng… và phục vụ trong yêu thương.

Làm được như thế, ấy là chúng ta sáp nhập cuộc đời của mình vào cuộc đời của Đức Giêsu. Đặt bước chân của ta vào dấu chân của Chúa, để sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin Mừng.

Như vậy, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Thánh Phaolô đã diễn tả tâm tình ấy khi tuyên xưng: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Ðức Kitô vào thập giá […] (Và) tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi ” (Gl 2,19-20).

Mặc lấy tâm tình của Đức Giêsu, người kitô hữu chúng ta sẽ từ bỏ con đường tội lỗi, để được hiệp thông cách trọn vẹn vào cuộc khổ nạn của Ngài, và như một định luật đối với những người tin và theo Đức Giêsu là: qua đau khổ thì mới được vào vinh quang.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng chịu treo trên Thánh Giá, xin thương xót và cứu chuộc chúng con. Amen.

 

23. Đường thập giá--Tâm Thương

Thứ Sáu Tuần Thánh, phụng vụ Giáo hội mời gọi mỗi Kitô hữu chúng ta chiêm ngắm cuộc Thương Khó và thập giá của Chúa Giêsu. Những cử hành phụng vụ hôm nay có hai điểm nhấn: suy tôn thánh giá và  14 chặng đàng thánh giá. Vậy thì, những cử hành phụng vụ như thế đem lại lợi ích gì cho tâm hồn chúng ta? Chúng ta bước vào thứ Sáu Tuần Thánh với tâm thức và thái độ như thế nào: sốt sắng và hăng hái hay khô khan và uể oải? Để trả lời cho những câu hỏi này, chúng ta cùng nhau  về đường thập giá: đường thập giá của Chúa Giêsu 2000 năm qua và đường thập giá của chúng ta hôm nay. Tất cả những  ấy không chỉ dừng lại ở cảm xúc, nhưng đi sâu vào đời sống đức tin nơi mỗi Kitô hữu chúng ta. Tất cả quy về cái nhìn của đức tin nơi mầu nhiệm Tử nạn của Chúa Giêsu. Tất cả quy về tình yêu cứu độ của Chúa Giêsu dành cho chúng ta.

Đường thập giá của Chúa Giêsu 2000 năm qua

Trước hết, vào chiều thứ Sáu Tuần Thánh, phụng vụ Giáo hội không cử hành Thánh lễ. Bầu khí chiều nay thật tĩnh lặng. Tĩnh lặng để  về mầu nhiệm Tử nạn của Chúa Giêsu. Tĩnh lặng để chiêm ngắm và tưởng niệm cái chết đau đớn của Chúa Giêsu trên thập giá. Chiều hôm nay, Giáo hội cử hành nghi thức suy tôn thánh giá và  chặng đàng thánh giá của Chúa Giêsu. Khi suy tôn thánh giá, vị linh mục xướng lên ba lần như sau: “Đây là gỗ thánh giá nơi treo Đấng cứu độ trần gian.” Cộng đoàn cùng đáp ba lần tương ứng: “Chúng ta hãy đến thờ lạy.” Vâng, chúng ta sấp mình thờ lạy và hôn thánh giá, bởi vì nơi ấy có sự hiện diện của Chúa Giêsu. Nơi nào có sự hiện diện của Chúa thì nơi đó có tình yêu. Vì thế, thập giá có sự hiện diện của Chúa Giêsu đã trở thành biểu tượng của tình yêu Kitô giáo. Đó là một tình yêu trao ban, một tình yêu hy sinh đến tận cùng như lời thánh Gioan đã viết như sau: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13) Để thật sự cảm nghiệm được chiều cao, chiều sâu và chiều rộng của tình yêu ấy, phụng vụ Giáo hội  14 chặng đàng thánh giá, để tưởng niệm con đường thập giá mà Chúa Giêsu đã đi qua.

Thật vậy, đường thập giá lên đỉnh đồi Gôngôtha là con đường của tận cùng đau khổ: “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người.” (Mc 10,33-34). Vậy thì, thập giá đã trở thành biểu tượng của tôn giáo và là đề tài của thần học. Các trình thuật cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu trong Tin Mừng cho thấy: trước khi quân lính bắt Chúa vác thập giá thì Chúa đã bị tra tấn với một trận roi đòn dã man theo luật của người La mã (x. Mt 27,26). Khi vác thập giá, Chúa Giêsu đã kiệt sức. Chúa ngã xuống đất ba lần. Vậy mà, quân lính còn bắt Chúa đội mão gai (x. Mt 27,27). Chúa bị đóng đinh vào thập giá (Mc 15,21-28). Chúa bị người Do Thái nhục mạ (x. Mt 27,39). Và cuối cùng, Chúa chết treo trên thập giá (x. Mc 15,33-41). Vì thế, một nhạc sĩ đã cảm nhận về thập giá của Chúa Giêsu như sau: “Thập giá minh chứng tình yêu. Thập giá là tiếng nói yêu thương vô cùng… Là niềm tin lửa mến, là đỉnh cao dâng hiến vinh quang.”

Bạn thân mến, đường thập giá mà Chúa Giêsu đã đi qua là con đường của tình yêu. Tình yêu mạnh hơn đau khổ. Tình yêu mạnh hơn sự xỉ nhục, khinh bỉ và loại trừ của người đời. Và tình yêu mạnh hơn sự chết. Vâng, Chúa đã đi đến tận cùng của tình yêu cứu độ. Chúa đã đi đến tận cùng mọi khổ đau của con người. Vì thế, Ngài rất dễ đồng cảm và yêu thương những ai đang đau khổ trong tâm hồn. Vì thế, nhà thần học Choan-Seng Song đã viết như sau: “Người Phật Giáo Á Châu tiến vào khổ đau nhờ bông sen, người Kitô hữu thì nhờ thập giá. Mỗi bên đều có chung một con đường đưa tới những vấn đề căn bản của cuộc sống: đau khổ, và đôi bên đều có cùng một nhiệm vụ là trải qua đau khổ, trong tin tưởng hy vọng, để đạt tới ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.” Hơn nữa, Chúa Giêsu mời gọi những người môn đệ: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” (Lc 9,23). Vậy thì, người môn đệ bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá. Thập giá đó là gì? Con đường ấy rộng rãi thênh thang dễ bước hay là một con đường hẹp, đầy sỏi đá và lắm chông gai?

Đường thập giá của chúng ta hôm nay

Chuyện kể rằng: có một người thanh niên cầu nguyện xin Chúa cho anh chọn cây thánh giá nhẹ hơn. Chúa dẫn anh đến một căn phòng rộng chứa nhiều cây thánh giá và cho anh tự do chọn lựa. Anh thanh niên này chọn được một cây thánh giá mà anh cho là nhẹ nhất. Cuối cùng, Chúa nói với anh rằng: đó là cây thánh giá mà từ trước tới giờ anh thường mang trong đời.

Thật vậy, ai trong chúng ta cũng có thập giá riêng. Thập giá của nghèo khổ và bệnh tật. Thập giá của cô đơn. Thập giá của cha mẹ già tủi thân và hiu quạnh vì con cái không quan tâm chăm sóc. Thập giá của những người trẻ đang bế tắc và mất định hướng trong cuộc đời. Thập giá của những thất bại và sai lầm. Thập giá của đời sống hôn nhân. Thập giá của đời tu. Thập giá của sự chống đối và bị loại trừ. Kinh nghiệm cho thấy, nhiều lúc chúng ta than thân trách phận với Chúa: “Sao Chúa để con vác thánh giá nặng quá?” Câu chuyện trên đây đã trả lời cho câu hỏi này. Không có cha mẹ nào lại muốn con cái mình đau khổ bao giờ. Vì vậy, Chúa không hề để thập giá và thử thách quá sức chịu đựng chúng ta. Chúa biết chúng ta giới hạn. Chúa biết chúng ta là con người mỏng giòn yếu đuối và tội lỗi. Vì vậy, Chúa Giêsu luôn tìm mọi cách để ghé vai chia sẻ thập giá cuộc đời với chúng ta. Ngài chết trên thập giá để gánh lấy muôn vàn tội lỗi của chúng ta: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.” (1Pr 2,24).

Còn chúng ta thì ngược lại. Chúng ta thường khước từ thập giá. Chúng ta không đủ can đảm để đối diện với thập giá đời mình. Chúng ta thích chọn con đường dễ dãi cho bản thân. Chúng ta ngại dấn thân và hy sinh nhưng chỉ nghĩ đến con đường dẫn tới bản thân mình. Con đường ấy không phải là con đường thập giá của Chúa Giêsu. Bởi vậy, chúng ta thường cảm nhận thập giá đời mình luôn trĩu nặng trên đôi vai: “Vì con chưa yêu Ngài nên thập giá còn nặng vai. Vì con chưa mến Ngài nên đời như còn lắm chông gai…”

Bạn thân mến, chúng ta luôn đứng trước những cám dỗ của Satan trên con đường thập giá đời mình. Cám dỗ của phản bội như Phêrô đã chối Chúa Giêsu ba lần. Cám dỗ của lợi lộc, chức quyền và đồng tiền như Giuda Ítcariốt năm xưa. Quả thật, biết bao lần trong cuộc sống, chúng ta cũng giống như thế. Dù vậy, ánh mắt yêu thương trìu mến của Chúa Giêsu vẫn luôn dõi theo cuộc đời chúng ta. Ánh mắt ấy đã thức tỉnh Phêrô. Ánh mắt ấy đã tha thứ tất cả và tin tưởng tất cả. Vì vậy, dù đôi lần chúng ta vấp ngã trong cuộc đời nhưng hãy vững tin ánh mắt yêu thương của Chúa như ánh mắt của người mẹ hiền luôn đồng hành và nâng đỡ cuộc đời chúng ta. Mỗi lần nhìn lên thánh giá, bạn và tôi sẽ cảm nhận được những điều huyền diệu nơi thập giá tình yêu cứu độ của Chúa Giêsu!

 

24. Cây Thập Giá nặng nề nhưng hiển vinh--Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh

Đức Thánh Cha Phanxicô huấn từ sau Đường Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh

Thiên Chúa đã chất cây thập tự giá của Chúa Giêsu tất cả gánh nặng của tội lỗi chúng ta, tất cả mọi thứ bất chính gây ra bởi hết mọi Cain phạm đến anh chị em mình, tất cả mọi cay đắng và phản bội của Giuđa và Phêrô; tất cả mọi phù du của áp bức độc đoán, tất cả mọi kiêu căng ngạo mạn của những người bạn hữu sai lầm. Nó là một cây thập tự giá nặng nề, giống như đêm tối của những ai bị bỏ rơi, nặng như cái chết của những người thân yêu, nặng vì nó mang lấy tất cả những gì là xấu xa ghê tởm của sự dữ. Tuy nhiên, nó cũng là một thập tự giá hiển vinh như rạng đông sau một đêm dài vì nó biểu hiệu cho tình yêu của Thiên Chúa trong hết mọi sự, một tình yêu lớn lao hơn cả lỗi lầm của chúng ta và sự phản bội của chúng ta. Nơi thập tự giá chúng ta thấy cái quái gở của con người khi họ bị sai khiến bởi sự dữ; thế nhưng chúng ta cũng thấy được cả tình thương bao la của Thiên Chúa là một tình thương không xử với chúng ta theo tội lỗi của chúng ta mà là theo tình thương của Người.

Trước thập tự giá của Chúa Giêsu chúng ta có thể hầu như chạm tới được mức độ chúng ta vĩnh viễn được yêu thương tới đâu. Trước cây thập giá chúng ta cảm thấy chúng ta là “con cái” chứ không phải là “thứ gì” hay “vật gì”, như Thánh Grêgôriô Cả đã nói, khi ngài ngỏ cùng Chúa Kitô bằng lời nguyện này: “Chúa Kitô của con ơi, nếu Chúa không hiện hữu thì con cảm thấy mình như là một tạo vật hữu hạn. Con được sinh ra và con cảm thấy mình bị tan rã. Con ăn uống, ngủ nghỉ và bước đi, con bị bệnh và được chữa lành. Vô vàn những ước muốn và dằn vặt dày vò cứ hạnh hạ con, con hoan hưởng mặt trời và hoa trái của trái đất này. Sau đó con chết đi và xác thịt con trở thành cát bụi như xác thịct của loài thú là những con vật không phạm tội. Thế nhưng phần con, con làm những gì mà chúng không làm chứ? Chẳng làm gì hết, nếu không phải Thiên Chúa làm. Chúa Kitô của con ơi, nếu Chúa không hiện hữu, tôi cảm thấy mình như là một tạo vật hữu hạn. Ôi Chúa Giêsu của chúng con ơi, hãy dẫn chúng con từ thập giá đến phục sinh, và dạy chúng con rằng sự dữ không phải là phán quyết cuối cùng. Tình yêu, lòng thương xót và sự thứ tha mới là phán quyết tối hậu. Ôi Chúa Kitô, xin giúp chúng con một lần nữa than lên rằng: ‘Hôm qua con đã bị đóng đanh với Chúa Kitô; hôm nay con được hiển vinh với Người. Hôm qua, con đã chết với Người; hôm nay, con đang sống với Người. Hôm qua, con đã nằm trong mồ với Người: hôm nay con được sống lại với Người”.

Sau hết, tất cả chúng ta hãy cùng nhau nhờ đến thành phần bệnh nhân, chúng ta hãy nhớ đến tất cả những ai lẻ loi cô độc một mình dưới chân thập tự giá để họ tìm được nơi thánh giá thử thách quyền lực của niềm hy vọng, của niềm hy vọng vào cuộc phục sinh và tình yêu thương của Thiên Chúa.

mục lục

 

25. Thập giá tình yêu - JB. Lê Đình Nam

Tâm điểm của Tuần Thánh chính là Thập giá, nơi Đức Kitô bị đóng đinh, chịu treo và chết vì tội lỗi của mỗi người chúng ta.

Hình ảnh Thập giá luôn cho ta một trải nghiệm đau đớn, một cảm giác ghê rợn và một cái nhìn về sự thất bại. Nhưng không! Thập giá Đức Kitô thì hoàn toàn khác, nó là đỉnh cao của tình yêu mà Thiên Chúa biểu lộ cho con người.

Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã đưa ta trở lại ơn gọi làm con Chúa. Mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người được nối lại, tình người và tình Chúa được hòa quyện.

Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa với con người. Nơi đó, tình yêu đã chiến thắng tội lỗi, sự tha thứ đã chiến thắng hận thù và phận hèn mọn của con người được nâng lên.

Và cũng chính nơi Thập giá ấy, máu thánh của Chúa Giêsu đã tuôn trào để đem lại cho chúng ta cuộc sống mới và một trang sử mới của nhân loại được bắt đầu.

Chiêm ngắm Thập giá Đức Kitô chính là nhận ra tình yêu của Thiên Chúa và giúp ta sống tình yêu đó giữa dòng đời lắm đau khổ và nhiều u buồn của ngày hôm nay. Tình yêu là trung tâm của đời sống Kitô hữu. Tình yêu là nền tảng cho một cuộc sống hướng đến niềm vui và bình an.

Ngắm nhìn Thập giá Đức Kitô để ta ý thức lại tương quan của mình với Thiên Chúa. Mỗi chúng ta đã đáp lại tình yêu của Ngài như thế nào? Hay chính chúng ta lại xúc phạm đến tình yêu đó bằng một đời sống đạo khô khan, tẻ nhạt, hay bằng những việc làm vô luân đi ngược với những giới răn của Ngài.

Nhìn lên Thập giá Đức Kitô để chúng ta học sống bằng tình yêu mỗi một ngày trong đời. Là Kitô hữu, ta được mời gọi sống yêu thương, san sẻ để đốt cháy những băng giá vô cảm, vô tâm nơi xã hội. Là con Thiên Chúa, ta được mời gọi sống bao dung tha thứ để xóa tan những tranh chấp, hận thù đang xảy ra trên khắp thế giới và ngay trong con người chúng ta. Là con người với nhau, ta được mời gọi sẻ chia và giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh xung quanh mình.

Thập giá Đức Kitô chính là tâm điểm cho hành trình Đức tin, là biểu tượng niềm tin cho mỗi một người Kitô hữu. Thật vậy, nó không chỉ dừng lại ở hình ảnh của sự thất vọng nhưng là dấu chỉ của niềm hy vọng. Nó không chỉ dừng lại ở sự đau khổ và tội lỗi nhưng là bằng chứng sống động về tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Và nó không chỉ dừng lại ở cái chết khốn khổ ấy nhưng sẽ hướng đến sự Phục sinh viên mãn.

Thứ 6 Tuần Thánh một lần nữa mời gọi chúng ta ngước nhìn Thập giá Đức Kitô - Thập giá tình yêu, để nơi đó chúng ta có một niềm cậy trông, một viễn cảnh hy vọng và một bài học lớn lao về tình yêu.

Hãy chiêm ngắm Thập giá Đức Kitô, tin tưởng nơi Thập giá, hy vọng vào Thập giá và sống tình yêu Thập giá mỗi giây phút trong đời!

 

26. Thập giá Chúa Kitô--Lm. Giuse Tạ Minh Chiến

Hôm nay Giáo hội kỷ niệm việc Chúa Giêsu bước vào cuộc tử nạn. Nhìn từ lăng kính xã hội thì cuộc tử nạn nói lên sự thất bại của Chúa Giêsu trong công cuộc rao giảng nước Chúa. Tại sao Chúa lại để mình thua thiệt và chết tức tưởi trên Thập giá như vậy mà không sử dụng đến vũ lực hay quyền phép. Vì đối với loài người, sự thua thiệt này là không thể chấp nhận được, nhất là khi trong tay mình có đủ điều kiện để vượt lên.

Nhìn những sự kiện đang xảy ra tại các nước châu Á hiện nay chúng ta thấy rõ điều đó. Trung Quốc thì muốn làm bá chủ biển đảo trên biển Đông, gây ra bao sóng gió và tranh chấp giữa họ với các nước láng giềng… Để rồi các nước tranh nhau mua sắm vũ khí, ai cũng muốn dương súng bắn vào nhau để chiếm lấy uy danh và lợi lộc, chẳng ai muốn lép vế trước đối phương, thua là nhục.

Vậy, giữa cái nhìn của loài người và Chúa Giêsu, ngài muốn nói gì với thế giới và nhất là với chúng ta - những người con của Ngài? Qua cái chết của mình, Chúa Giêsu trước hết muốn nói lên tình yêu thương bao la của Thiên Chúa, Ngài không nỡ để nhân loại phải chịu án chết vì tội lỗi của mình. Chỉ có máu Chúa đổ ra mới có thể tẩy xóa hết được tội lỗi của nhân gian, muốn dạy chúng ta hãy lấy tình yêu, sự hy sinh để đổi lấy sự sống, đổi lấy lòng người, đổi lấy hòa bình. Con người chỉ có thể đem lại hạnh phúc cho nhau trong sự hy sinh, tha thứ, bởi vì con người quá nhiều bất công, nếu đòi hỏi người khác hoàn hảo, tôn trọng mọi sự sẽ không bao giờ có điều đó trên thế gian này.

Cũng chính trong tâm tình trên, lời Chúa mời gọi gì nơi Giáo hội và từng người Kitô hữu chúng ta? Trong bối cảnh của thế giới đầy biến động hôm nay, Chúa Thánh Thần đã thổi một làn gió mới vào Giáo hội, đã ban cho Giáo hội một vị chủ chăn có tâm hồn và cách hành động tuyệt vời theo bước chân của Chúa Giêsu. Trong bài huấn từ đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô với chủ đề “Cần tuyên xưng Đức Kitô chịu đóng đinh” là bằng chứng sống nói lên sự hoạt động khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Đức Thánh Cha nói: “Khi chúng ta tuyên xưng Đức Kitô mà không có Thánh giá, chúng ta không phải là môn đệ của Chúa: Chúng ta thuộc về thế gian, chúng ta là giám mục, linh mục, hồng y, giáo hoàng, nhưng không phải là môn đệ của Chúa!”. Tôi ao ước: Tất cả chúng ta, sau những ngày ân sủng này, có lòng can đảm, can đảm chính là để đi trong sự hiện diện của Chúa, với Thánh giá của Chúa, để xây dựng Hội thánh trên máu của Chúa được đổ ra trên thánh giá và để tuyên xưng một vinh quang duy nhất: “Là vinh quang của Đức Kitô chịu đóng đinh”. Bằng cách này, Hội thánh sẽ tiến lên. Tôi ước mong cho tất cả chúng ta rằng Chúa Thánh Thần, nhờ lời cầu nguyện của Mẹ Maria, Mẹ chúng ta, ban cho chúng ta ân sủng để đi, xây dựng và tuyên xưng Đức Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Như vậy thôi.

Như vậy, cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá mà chúng ta tưởng niệm hôm nay, cùng với lời mời gọi của Đức thánh Cha Phanxicô, đang mời gọi tất cả chúng ta là môn đệ của Chúa. Hãy thấy giá trị của Thập giá. Muốn lãnh nhận được ơn cứu độ cũng như có thể biến cải tâm hồn mình và thế giới, chúng ta cũng không đi con đường nào khác ngoài con đường của Chúa đã đi, là chấp nhận Thập giá và hy sinh vác lấy với một tấm lòng quảng đại, cho đi, tha thứ và yêu thương. Thế giới này sẽ không có loại vũ khí nào có thể chống lại được ước nguyện hiệp nhất của chúng ta trong sự hy sinh này. Ước mong mỗi người Kitô hữu hãy cùng ghé vai để cùng với Chúa Kitô vác Thập giá đời mình lên núi cây dầu, để cho anh chị em và cho thế giới được ơn biến đổi tốt đẹp hơn trong sự hy sinh của chúng ta. Amen!

 

27. Đức Giêsu khó thở trên Thập giá—Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Trong chiều ngày thứ Sáu này, Đức Giêsu cũng đang khó thở vì chịu đóng đinh vào Thập giá. Tới khoảng 3 giờ chiều, Ngài đã tắt thở. Đó là buổi chiều tang tóc thê lương mà chúng ta muốn thông phần đau khổ với Ngài.

Người bị treo trên Thập giá thì sức nặng toàn thân ép lồng ngực gây khó thở. Người ta đánh dập ống chân để không rướn lên được mà lấy hơi thì sẽ chết mau.

1. Đức Giêsu chia sẻ với bệnh nhân

Các nhà nghiên cứu đều khẳng định sức khỏe của Đức Giêsu trước cuộc thương khó là bình thường. Một thanh niên đủ sức để rao giảng tin mừng từ làng này qua làng khác. Tuy vậy, ngay tại vườn cây dầu, Đức Giêsu đã bị đổ mồ hôi máu. Đây là một hiện tượng rất hiếm gặp, nhưng nó có thể xảy ra trong tình trạng xúc động cao độ. Sau lần đó, Đức Giêsu lại bị quân lính bắt và điệu về nhà thượng tế Cai - pha. Họ giam cầm, tra tấn và đánh đập Ngài ở đó. Tờ mờ sáng, Đức Giêsu bị điệu đến gặp tổng trấn Philatô. Chính nơi đây, Đức Giêsu chịu những đòn roi của quân lính. Chắc chắn Ngài bị mất máu nhiều.

Theo truyền thống hành quyết của Đế quốc Rôma, người ta phải vác một thanh ngang đến chỗ tử nạn. Nơi đó có thanh dọc đã đặt sẵn hoặc tử tội phải vác khúc gỗ hình chữ T, đến nơi hành quyết, họ chịu đóng đinh và treo lên cây đã dựng sẵn ở đó. Theo nhiều nhà nghiên cứu, tại đồi Canvê, cổ tay của Đức Giêsu bị đinh đóng vào cây ngang và sau khi cây ngang bị nâng lên cây dọc thì hai bàn chân của Ngài bị đinh đóng vào cây dọc. Trong tình trạng đó, người ta tin rằng cái chết của Ngài chủ yếu phát sinh từ cơn sốc giảm thể tích máu và nghẹt thở. Đức Giêsu đã khó thở khi tay giang rộng, treo trên Thập giá.

Chiêm ngắm Ngài như thế để thông phần nỗi đau với Ngài. Chính Ngài cũng đã và đang chung phần nỗi đau cụ thể với nhân loại. Trên Thập giá lúc này, Ngài cũng đang nhìn xuống biết bao người phải chống chọi với con virus khiến người ta khó thở. Nhất là những ai đã có những căn bệnh trước đó, virus lại khiến họ suy hô hấp nhanh hơn. Nhiều người hỏi Thiên Chúa ở đâu trong khi con người đang chiến đấu với căn bệnh này? Ngày hôm nay, chiều thứ 6 Tuần Thánh này, Chúa đang cho chúng ta câu trả lời: Trên Thập giá. Hóa ra, để cứu ta khỏi chết, Thiên Chúa đã thực hiện một sứ mạng nguy hiểm: Hiến tế con của Người trên Thập giá.

2. Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng

Nếu những ai tham dự chặng đàng Thánh giá, trước khi chết, Đức Giêsu chịu đóng vào Thập giá. Nơi đó, dưới chân Thập giá có Đức Mẹ và người môn đệ Chúa yêu mến đã ghi lại cho chúng ta một chi tiết: “Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Người nói: Tôi khát! Đó không chỉ là khát nước sau chặng đường Thập giá. Trên hết, Ngài đang khát khao chu toàn thánh ý Chúa Cha.

Theo Tin Mừng Thánh Luca, câu nói cuối cùng của Đức Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Nói xong, Người tắt thở”. Vậy là Đức Giêsu đã trút hơi thở cuối cùng. Ngài đã hoàn thành sứ mạng. Thần khí Ngài trở về với Thiên Chúa Cha. Với hầu hết người hiện diện ngày hôm đó, Đức Giêsu đã thất bại ê chề. Tuy vậy, nhờ biến cố Phục sinh, Giáo Hội tin rằng ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa, Ngài cũng cho được hưởng hạnh phúc nước trời.

Lúc này đây thật tốt để chiêm ngắm Chúa trong thinh lặng. Trước cái chết, mọi diễn tả của ngôn từ sẽ không đủ. Mỗi người cùng sầu buồn với Mẹ Maria và “người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến”, đại diện cho mỗi chúng ta, bởi vì “Chúa đã yêu tôi và thí mạng vì tôi”.

3. Cầu nguyện cho những nạn nhân Covid-19

Cùng với Đức giáo Hoàng Phanxicô, chúng ta xin Thiên Chúa xót thương đón nhận những linh hồn đã chết trong đại dịch này vào vòng tay nhân từ của Người. Xin cho những ai đang trong giờ lâm tử cũng được Chúa đoái thương. Linh hồn của họ cần được Thập giá của đức Giêsu cứu thoát. Hy vọng những lời cầu nguyện của mỗi người giúp cho họ giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa trong thời khắc đau thương này.

Chắc không ai sầu buồn bằng Đức Mẹ khi chứng kiến người con thân yêu của mình qua đời. Lúc này một lưỡi gươm “đâm thâu” tâm hồn Mẹ. Mẹ chấp nhận tất cả và đứng vững trong nỗi đau này. Bởi Mẹ tin con của Mẹ sẽ sống lại như những lời Ngài đã nói năm xưa. Cùng với Mẹ, chúng ta cầu nguyện xin Chúa nâng đỡ người thân của những ai đã qua đời, những ai trong cơn nguy kịch.

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đầy quyền năng và giàu lòng thương xót, xin đoái nhìn đến nỗi thống khổ của gia đình nhân loại trong cơn đại dịch, xin cứu chuộc những người đã qua đời, chữa lành các bệnh nhân, an ủi những gia đình đang đau khổ, nâng đỡ các bác sĩ, nhân viên y tế và những anh chị em thiện nguyện. Xin thương nghe lời Hội Thánh Chúa đang tha thiết khẩn cầu, cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt, và cho chúng con cảm nhận được sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa để biết luôn chân thành liên kết với nhau. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen!

 

28. Sức mạnh nơi khổ đau--Lm. DĐH.

Sức mạnh đồng tiền làm điên đảo nhiều tâm hồn, sức mạnh quyền lực có thể làm thay trắng đổi đen, sức mạnh khổ đau khiến người ta bật khóc hoặc nuôi dưỡng họ thêm ý chí quyết tâm đứng lên sau lần vấp té. Đau khổ là gì? tại sao có vấp ngã, sai lầm? Có thể ai cũng bị thuyết phục bởi tình yêu, vì tình yêu không thể thiếu nơi cuộc sống này, nhưng chắc chắn chỉ Kitô giáo chúng ta mới nói tới sức mạnh của tình yêu nơi thập giá. Được sinh ra làm người, ai cũng có hai bậc sống để chọn lựa: đi tu hay lập gia đình, tuy nhiên chẳng thời đại nào cho ta hai gia đình: hạnh phúc hay đau khổ để chọn lựa.

Tu là cõi phúc, tình là giây oan, quan niệm đó nhiều người cho rằng không phù hợp nữa, vì đau khổ vẫn tràn lan vào cả đời tu lẫn đời sống gia đình. Chiều hôm nay, nghe đọc bài thương khó, các em thiếu nhi đơn sơ sẽ nói bài đọc dài thế? Người trẻ lại có cảm nghĩ xã hội Do-thái thời Chúa Giêsu bất công quá, ác độc quá! Các ông bà đạo đức thì thường than thở, nhân loại tội lỗi, phản bội Chúa, lại còn cả gan đóng đinh giết Chúa! Cũng có một số người thiện cảm với “bậc tù trì” nói rằng, Chúa mà người ta còn đóng đinh, huống chi các giám mục, linh mục, tu sĩ, ngày nay chúng không đóng đinh, làm khổ đó mới là chuyện lạ!

Mầu nhiệm đau khổ thập giá nơi Đức Giêsu, chẳng ai đọc thấy sự ốm đau bệnh tật trong đó, nhưng người ta dễ nhận ra sự bất trung, phản bội, ngay trong hàng ngũ các tông đồ. Trong số đó có cả đám đông dân chúng đã từng chịu ơn Đức Giêsu, họ cũng hò la đòi đóng đinh giết Chúa. Sức nặng thập giá làm con người khiếp sợ, muốn tìm lối thoát thân, dẫn đến việc từ chối con đường theo Chúa, nhưng tội lỗi mới là nguyên nhân khiến con người phải chết đời đời. Chúa Giêsu không thuyết phục các môn đệ hãy mạnh dạn cùng chết với Thầy, Ngài còn lệnh cho Phêrô: “hãy xỏ gươm vào bao, vì chén Cha trao ban lẽ nào Thầy không uống?” Câu trả lời hay nhất cho Phêrô và cho những tâm hồn tội lỗi, chắc chắn Phêrô và chúng ta đã biết là tự tình yêu và lòng sám hối của ta.

Chúa Giêsu chiến thắng thập giá nhờ sức mạnh của tình yêu hiệp nhất với Chúa Cha, nhờ ý chí quyết tâm cứu nhân loại tội lỗi khỏi chết đời đời. Ngày hôm nay người đời vẫn cho rằng đau khổ thập giá là những đau khổ về vật chất tiền của, về áp lực việc bổn phận, có khi là những áp bức bóc lột giữa người địa vị với dân đen ít học. Đức Giêsu mang vác thập giá để cứu nhân loại tội lỗi, vì vậy mà sức mạnh thập giá vẫn đang cần thiết để biến đổi tâm hồn chúng ta nên thánh thiện, nên giống Chúa. Sức mạnh thập giá không phải là vật chất, quyền lực, mà là tình yêu kết hiệp với Đấng chịu đau khổ, Đấng đã chết đi cho tội lỗi của chúng ta.

Lầm đường lạc lối, yếu đuối vấp té thì ai cũng có kinh nghiệm, nhưng để quay lại vạch xuất phát, phải trở lại với cõi lòng mình, nhất định phải có ý chí, tức là phải có đủ sức mạnh tình yêu Chúa. Như thế nào là sống đúng, sống có ý nghĩa, có thể rõ nhất là con cháu, những người thân quen, nhưng bình an, hài lòng về lời nói việc làm của một tâm hồn, Chúa mới thấu tỏ. Thành công về mặt tri thức, thành công về đời sống tâm linh, cũng chỉ là một khái niệm tương đối, biết tin theo Chúa, biết khiêm tốn đấm ngực mình để đừng xa cách Chúa, điều đó thực tế hơn cả.

Trên cây khổ giá là minh chứng tột cùng Chúa Giêsu yêu nhân loại, dù còn chút hơi sức, Chúa vẫn hứa thiên đàng cho người trộm có lòng ăn năn hối cải, Chúa cũng không kết án anh trộm bên tả, có chăng là chúng ta kết tội anh ta thôi. Phêrô chối Thầy, Giuđa bán Chúa, chúng ta vẫn gọi là trọng tội, nhưng cơ hội cho tất cả những tội nhân đều như nhau: sám hối, cậy nhờ sức mạnh nơi thập giá, chúng ta sẽ thấy thế nào là tình yêu. Chúa Giêsu ghét tội, nhưng Chúa không kỳ thị, không từ chối lòng sám hối của bất kỳ tội nhân nào, dù còn lăn tăn hay ngờ vực thì “mầu nhiệm thập giá” của Chúa Kitô mới là câu trả lời đúng nhất. Xin Đức Kitô chịu đóng đinh vì tội lỗi chúng con, xin ban ơn khôn ngoan đừng để chúng con bỏ lỡ cơ hội trong ngày thánh này. Amen.

 

29. Chiến thắng đau khổ--Lm. Jos. DĐH

Vui thì cười, buồn thì khóc, có sinh ắt có tử, đó là quy luật; trong cuộc sống có đau khổ, buồn chán, thất vọng, nhưng phía sau đó có bình an, có được vinh quang hạnh phúc, còn tùy mỗi người. Các bậc làm cha mẹ kể về thành tích cho con cháu nghe, bao giờ cũng dễ hơn là kể về thất bại của họ. Người đời cho rằng: con hư tại mẹ cháu hư tại bà, ngụ ý là con cái hư hỏng, bất hiếu là vì cha mẹ thiếu quan tâm chăm sóc giáo dục. Cũng không ít người lại đổ lỗi cho môi trường xã hội, là nguyên nhân làm thay đổi tâm tính con người: nhân chi sơ tính bổn thiện. (Mạnh Tử).

Chiều hôm nay phụng vụ mời gọi chúng ta suy niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu, nhằm hướng lòng chúng ta có cái nhìn lạc quan hơn về thiện ác. Trước hết, Chúa Giêsu chịu đau khổ thập giá, chịu chết, hầu cứu con người khỏi án chết, đó không phải là hận thù, cũng chẳng phải là quy luật. Cuộc thương khó nhắc nhớ con người về Đấng đến trần gian thực hiện ơn cứu độ, Thiên Chúa yêu con người đến cùng tận. Mang bản tính con người giới hạn, khi gặp đau khổ, im lặng đã là khó rồi, nói chi đủ bình tĩnh để nói đến yêu thương tha thứ.

Xung quanh chúng ta, hàng ngày biết bao người vĩnh viễn ra đi vì già lão bệnh tật, đôi khi vì tai nạn nghề nghiệp, vì giao thông…. Có những cái chết thật đau thương như câu ca dao: lá vàng đeo đẳng trên cây, lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời. Cuộc thương khó chúng ta đang suy niệm cho thấy có sự kỳ lạ, ba người bị treo trên thập giá, trong đó có hai trường hợp bị kết tội trộm cướp, Chúa Giêsu thì có bản án ghi trên đầu: “Giêsu Nagiarét, vua dân Do-thái”. Dân chúng đóng đinh vua nhất định phải là phản loạn, con cái lên án cha mẹ thì gọi là bất hiếu, con người tội lỗi mà xử án chết Thiên Chúa thì gọi là gì?

Nhiều người vẫn thắc mắc, sao Đức Giêsu không xuống khỏi thập giá để trị tội những kẻ tội lỗi dám xúc phạm đến Thiên Chúa. Xin thưa là bài thương khó cũng có nói rất nhiều người ở dưới cây thập giá lúc đó, cả anh trộm dữ treo bên tả Chúa cũng xỉ vả như vậy! Thật ra, Kitô giáo chúng ta gọi là mầu nhiệm đau khổ, mầu nhiệm thập giá hoàn toàn chính xác. Nếu không phải là vì yêu, hẳn Đức Giêsu đã xuống khỏi thập giá để trị tội những kẻ gian ác rồi.

Với niềm tin Kitô giáo chúng ta, Đức Giêsu vô tội mà chịu đau khổ, chịu chết cho con người, nhất định phải là một minh chứng tình yêu mà họ đang mong chờ. Khi Đức Giêsu bị xét xử, số người âm thầm tin tưởng vào Ngài thì quá khiêm tốn, họ là người dân bình thường, nhưng lại trung thành theo Chúa Giêsu đến cùng. Dù sao số người tin yêu Chúa cũng là chút an ủi bé nhỏ con người danh cho Thiên Chúa, ngôn ngữ bình dân gọi là có còn hơn không.

Dưới mắt trần xác thịt, Đức Giêsu chịu bản án chết là thất bại hoàn toàn, nhưng người tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa, Ngài thực sự đã vượt qua được đau khổ thập giá để đến vinh quang. Thập giá cuộc đời của mỗi người hôm nay, vẫn có đau khổ, sợ hãi, có cám dỗ bỏ cuộc, chỉ khi mắt tâm hồn ta rộng mở, ta mới thấy thập giá luôn có Chúa Giêsu hiện diện nâng đỡ.

Đức Giêsu trên thập giá thật sự đã dang tay yêu thương, chờ đón con người. Ngay từ đầu, Ngài có thể từ chối đau khổ thập giá, hoặc có thể loại trừ các học trò hư hỏng, hèn nhát bỏ Thầy bán Chúa. Ngài không xử như thế, Thiên Chúa là tình yêu, và yêu đến cùng tận, là yêu đến độ dám hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu là thế! Nếu người trộm lành năm xưa thấy được Đức Giêsu là Thiên Chúa yêu thương, lẽ nào chúng ta hôm nay lại không nhận ra Ngài đang chờ đợi mỗi người hay hành động sám hối như anh trộm lành. Xin Chúa Giêsu chịu đóng đinh, hướng dẫn từng người chúng ta biết đi sâu vào trong mầu nhiệm tình yêu hiệp thông của Ngài. Amen.

mục lục

 

30. Đỉnh đồi thương xót--Trầm Thiên Thu

Nắng vàng nhuộm cả hoàng hôn

Biệt ly mẫu tử, đoạn trường ai gây?

Đỉnh đồi thương xót là đây

Giêsu chịu chết cứu loài tội nhân

Không gì sầu thảm hơn cuộc chia ly, nhất là cuộc chia ly đó là khoảng cách sinh tử của Mẫu Tử tình thâm, ở đây còn có sự chia ly của tình nghĩa Thầy Trò. Nỗi buồn thật khôn tả!

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày phủ màu tím rịm, ngày u buồn của những người mang danh Kitô hữu. Tuy nhiên, trong nỗi buồn “đậm đặc” ấy lại chứa đầy ắp niềm hy vọng để bước qua cửa ải sự chết và hân hoan tiến vào Miền Vĩnh Sinh trong tiếng ca vang Alleluia. Và điều này hoàn toàn chắc chắn!

Cách nói “Thứ Sáu Tuần Thánh” của Việt ngữ không lột tả được thâm ý như Anh ngữ: Good Friday – Thứ Sáu Tốt Lành. Nhưng người Đức gọi Thứ Sáu Tuần Thánh là Karfreitag, nghĩa là “ngày đau buồn” (tiếp đầu ngữ Kar nghĩa là than khóc, sầu khổ). Thứ Sáu là “ngày chết chóc”, ngày xui xẻo, ảm đạm và thê thảm, thế mà lại được coi là Ngày Tốt Lành, thật là kỳ diệu biết bao!

Đã đành và minh nhiên là chúng ta cũng đã và đang góp phần bán đứng Đức Kitô, nhẫn tâm đóng đinh giết chết Chúa Giêsu nhiều lần qua việc những lần phạm tội, hằng ngày chúng ta còn nỡ lòng đóng đinh nhau bằng nhiều loại đinh: Chỉ trích, gièm pha, khích bác, phe cánh, ghen ghét, đố kỵ, áp bức, bóc lột,… Trong các loại “đinh” đó, có đinh gỉ sét, có đinh sắc bén, có đinh dài thoòng, có đinh xoắn,… với rất nhiều kích cỡ khác nhau.

Quả thật là không hề dễ dàng nhổ ra các loại đinh đó một khi chúng được “đóng” vào ai đó! Có lẽ vì vậy mà khi thấy các phụ nữ Giê-ru-sa-lem khóc thương Ngài, Chúa Giêsu dừng lại với cây Thập Giá trên vai và nói thật lòng với họ: “Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Và đó cũng chính là lời Chúa Giêsu nhắn nhủ mỗi chúng ta hôm nay. Thật vậy, đừng tổ chức đám tang cho Chúa Giêsu mà hãy làm đám tang cho chính mình, đừng lo phô trương vẻ đạo đức bình dân bề ngoài mà coi thường phần nội tâm chính yếu!

Trước đó, Chúa Giêsu đã từng xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Chính điều này đã được Ngài chứng minh bằng cái chết bi hùng vào chiều ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chính xác giờ thọ hình là 3 giờ chiều trên Đồi Sọ vào ngày 3 tháng 4 năm 33 (sau công nguyên). Thời điểm và ngày tháng Chúa Giêsu chịu chết đã được Tạp chí Địa Chất Quốc tế thực hiện cuộc nghiên cứu để xác định “ngày giỗ” của Chúa Giêsu. Cuộc nghiên cứu này dựa vào nền tảng Phúc Âm, đồng thời kết hợp với các tài liệu về địa chất và thiên văn học, các nhà nghiên cứu đã đủ cơ sở để xác định như vậy.

Yêu thương và thương xót có mức độc chăng? Và thế nào là mức độ yêu thương? Mức độ yêu là YÊU VÔ HẠN, yêu như điên, yêu phát khùng, yêu cuồng nhiệt, yêu đến nỗi bị coi là dại dột, đó là si tình. Chuyện đời có mối tình của Romeo va Juliet của văn hào Shakespeare (1582-1616, Anh quốc), Việt Nam có mối tình Lan và Điệp, còn văn hào Victor Marie Hugo (1802-1885, Pháp quốc) yêu say đắm cô hàng xóm Adele Foucher nhưng bị mẹ cấm, sau khi mẹ mất, ông đã kết hôn với Adele. Tuy có vợ rồi nhưng ông lại “phải lòng” cô Juliette Drouet, và Juliette Drouet đã viết cho ông khoảng 1.700 lá thư tình. Ở đây chỉ muốn nói tới khối tình si của những trái tim yêu hết mình mà thôi. Dày dạn kinh nghiệm tình trường, Victor Hugo đã kết luận: “Chết cho tình yêu là sống cho tình yêu”.

Chúa Giêsu cũng là người si tình thứ thiệt, độc nhất vô nhị, một người điên dại vì yêu, và Ngài mệnh danh là Người Tôi Trung mà ngôn sứ Isaia đã đề cập: “Này đây, Người Tôi Trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy Tôi Trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa, cũng vậy, nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ” (Is 52:13-15). Người Tôi Trung có những động thái trái ngược rất lạ lùng, chúng ta không thể nào hiểu nổi. Người ta có si mê thì cũng si mê người đẹp, người khôn, người ngoan, người tài, người giỏi, đằng này Chúa Giêsu lại si mê kẻ không ra gì – tức là chính tội nhân xấu xa, kẻ đó là mỗi chúng ta!

Thật lạ lùng là chính Người Tôi Trung ấy lại “lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn, chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích” (Is 53:1-2). Không chỉ vậy, Người Tôi Trung ấy còn “bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật, như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:3). Đâu ai ngờ sự thật là “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Đây là “điểm nóng” để chúng ta phải tự chấn chỉnh cách nhìn của mình đã và đang dành cho tha nhân.

Cuộc đời của Người Tôi Trung là Bản Trường Ca Đau Khổ, là Liên Khúc Bi Tráng Ca. Thật vậy, họa vô đơn chí, đau khổ cứ chồng chất lên đau khổ, theo cách nhìn phàm tục thì đúng là cuộc chiến bại ê chề, thê thảm.

Chính Người Tôi Trung “đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Trong tình trạng Người Tôi Trung bị coi là te tua tơi tả như vậy thì “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả, nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người mọi tội lỗi của tất cả chúng ta”, để rồi Người Tôi Trung tiếp tục “bị ngược đãi, cam chịu nhục, nhưng chẳng mở miệng kêu ca, như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” (Is 53:6-7).

Mặc dù bị nhục nhã ê chề đến vậy mà Người Tôi Trung vẫn chưa yên thân: “Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt. Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:8-9). Tột cùng đau khổ. Quả thật, kinh hãi quá, phàm nhân chúng ta không thể tưởng tượng nổi và không thể đủ sức chịu đựng như vậy!

Nhưng đó là Thánh Ý Thiên Chúa: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:10-11). Ý Chúa đã vậy, đáng khâm phục là đức vâng lời của Người Tôi Trung. Đúng là “vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9).

Cả một bài đọc dài với đủ dạng đau khổ như thế mà không thấy câu chữ nào vô nghĩa, người nghe cũng không cảm thấy nhàm chán. Kỳ diệu quá sức! Nhưng câu cuối cùng thấy có màu “sáng” nhất: “Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Và đó là hệ lụy tất yếu cho những người-tôi-trung-ngay-khi-gian-khổ.

Người Tôi Trung luôn một lòng tin tưởng Thiên Chúa, dù gặp bao trắc trở nhưng vẫn trung tín và kiên tâm cầu nguyện, như Thánh Vịnh gia thổ lộ: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con” (Tv 31:2). Ngay cả cái chết cũng không tách Người Tôi Trung khỏi lòng mến yêu Chúa: “Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:6).

Được biết rõ ràng là mình chỉ “nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích đều kinh hãi, tránh xa, bị lãng quên như kẻ chết không người tưởng nhớ, hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13), nhưng Người Tôi Trung “vẫn tin tưởng nơi Chúa, vẫn can đảm thân thưa thưa: ‘Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con. Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ’ ” (Tv 31:15-17). Và như Người Tôi Trung, Thánh Vịnh gia tha thiết mời gọi mỗi chúng ta: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Hôm nay là dịp thuận tiện, là ngày tốt, là thời điểm hợp lý để chúng ta thể hiện điều đó.

Thánh Phaolô giải thích và chia sẻ kinh nghiệm tâm linh: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:14-16). Qua đó, chúng ta thấy Đức Giêsu đã mặc xác phàm yếu đuối như chúng ta để đồng lao cộng khổ với chúng ta, đặc biệt là để động viên chúng ta vượt qua mọi “ngưỡng” đau khổ, nhất là vượt qua cửa ải sự chết.

Tiếp tục phân tích, Thánh Phaolô cho biết thêm: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5:7-9). Bài học quá đắt giá, nhưng cái gì càng đắt giá thì càng giá trị cao!

Hôm nay, Bài Thương Khó là đoạn Phúc Âm buồn thảm nhất trong Kinh Thánh. Người Tôi Trung Đau Khổ Giêsu là nhân vật độc nhất vô nhị, nổi tiếng nhất trong lịch sử xưa nay và đến mãi tận thế. Càng ngày người ta càng phải công nhận, bằng cách này hay cách khác, ngay cả những người cố ý tỏ ra không công nhận nhưng thực ra trong thâm tâm họ vẫn công nhận.

Trình thuật Phúc Âm Ga 19:1-42 cho chúng ta biết về “chuyến đau khổ” của Chúa Giêsu bắt đầu từ Vườn Dầu, tức là Ghết-sê-ma-ni.

Sau Bữa Tiệc Ly, Ngài đi ra cùng với các môn đệ sang bên kia suối Kít-rôn, vào một thửa vườn. Giu-đa cũng biết nơi này, vì lâu nay Thầy trò thường quy tụ ở đó.

Ngay đêm Thứ Năm, Giu-đa tới đó và dẫn một toán quân với đám thuộc hạ của các thượng tế cùng nhóm Pha-ri-sêu. Họ mang theo đèn đuốc và khí giới. Đức Giêsu biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi: họ tìm ai. Họ nói ngay là tìm Giêsu Na-da-rét. Ngài nhận ngay: “Chính tôi đây”. Mới nghe vậy, họ liền lùi lại và ngã xuống đất. Ngài hỏi lại, họ vẫn nói là tìm Giêsu Na-da-rét. Ngài vẫn nhận mình là người họ tìm, chấp nhận cho họ bắt Ngài nhưng Ngài yêu cầu không bắt bất cứ ai đi với Ngài. Điều này ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai”.

Ông Phêrô có sẵn thanh gươm liền tuốt ra và chém đứt tai phải của Man-khô, đầy tớ của vị thượng tế. Ngài bảo ông Phêrô xỏ gươm vào bao, và giải thích rằng Ngài sẵn sàng uống chén mà Chúa Cha đã trao. Họ bắt Ngài và dẫn Ngài đến ông Kha-nan, nhạc phụ của thượng tế Cai-pha. Chính Cai-pha đã đề nghị với người Do-thái là “nên để một người chết thay cho dân thì hơn”. Một lời đề nghị ích kỷ và bất công vô cùng!

Mặc dù bị chất vấn và tra khảo, nhưng Chúa Giêsu vẫn nói thẳng và nói thật chứ không run sợ trước thế lực của họ, có người vả vào mặt Ngài, nhưng Ngài vẫn hỏi vặn lại: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Tất nhiên họ chẳng nói lại được gì, mà chỉ “cả vú lấp miệng em”. Rồi ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha trong khi Ngài vẫn bị trói.

Trong khi đó, ở ngoài sân, ông Phêrô bị người ta phát hiện thuộc nhóm của Chúa Giêsu nên ông sợ và chối thẳng thừng, không chỉ một mà tới ba lần. May có tiếng gà gáy sáng, và ông đã ăn năn.

Người Do-thái lại điệu Chúa Giêsu từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn Phi-la-tô khi trời vừa mới sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Bề trong không lo mà chỉ lo bề ngoài, thật là tồi tệ!

Ông Phi-la-tô hỏi đủ điều nhưng Ngài chỉ im lặng. Ông Phi-la-tô cũng nhận thấy Ngài không có tội gì và có ý phóng thích Ngài, nhưng ông ta vẫn không dám làm theo tiếng nói lương tâm vì ngại với đám đông, sợ mất chiếc ghế chức tước và quyền lực. Nghe Chúa Giêsu nói về sự thật, ông ta còn “giả nai” hỏi lại: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38). Bà vợ bảo ông ta đừng nhúng tay vào vụ án xử Chúa Giêsu, ông ta đi lấy nước rửa tay, ý ông ta muốn chứng tỏ mình vô can.

Chắc hẳn chúng ta cho rằng ông Phi-la-tô đúng là một kẻ hèn nhát, coi thường công lý và làm ngơ nỗi khổ của người khác, thế nhưng chính chúng ta cũng đã từng có những lần hèn nhát y như ông ta, đó là khi chúng ta im lặng trước bất công của tha nhân. Ai sao thì sao, tôi bình an là được. Động thái của ông Phi-la-tô là lời cảnh báo đối với mỗi chúng ta là phải cảnh giác trong mỗi động thái của mình, nhất là đối với những gì liên quan sự thật và công lý.

Vào mỗi dịp lễ Vượt Qua, và theo tục lệ của người Do-thái, người ta thường tha một phạm nhân nào đó. Người ta hùa nhau xin tha cho tướng cướp khét tiếng Ba-ra-ba, nhưng lại xin giết chết Đức Giêsu. Trước đó không lâu, người ta mới tung hô “vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến” ở Thành Giê-ru-sa-lem, thế mà giờ đây lại quyết xin đóng đinh người mà họ đã tôn vinh.

Không biết xử trí ra sao, ông Phi-la-tô liền truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Ngài. Họ hành hạ Ngài với những kiểu dã man nhất. Sau đó, ông Phi-la-tô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài cho người ta thấy Ngài thê thảm thế nào với vòng gai trên đầu mà thôi kết án Ngài. Thế nhưng họ vẫn không chút mủi lòng, cho rằng Ngài lộng ngôn khi nhận mình là Con Thiên Chúa. Họ càng thấy Ngài bị hành hạ tơi tả thì họ càng vui sướng: “Đóng đinh nó vào thập giá!”.

Nghe lời đó, ông Phi-la-tô càng sợ hơn nữa. Sơ gì? Sợ mất chức, mất chức thì mất bổng lộc và mất quyền. Ông ta bảo ông có quyền tha và có quyền đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá. Nhưng Đức Giêsu nói ngay: “Ông không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ông. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ông thì mắc tội nặng hơn”. Ông Phi-la-tô tìm cách tha Ngài nhưng vẫn không dám thực hiện vì bị áp lực của đám đông.

Họ bắt Ngài tự vác lấy thập giá đi đến Đồi Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha. Cùng chung hình phạt đóng đinh vào thập giá với Ngài là hai tên gian phi khét tiếng. Phía trên thập giá có ghi: “Giêsu Na-da-rét, Vua dân Do-thái” (*). Vô tình mà họ đã phải công nhận Chúa Giêsu là Vua dân Do-thái. Bảng đó được ghi bằng đa ngữ: Tiếng Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. Các thượng tế của người Do-thái muốn ghi kiểu khác, nhưng ông Phi-la-tô không chiều theo ý họ. Đó là ý Chúa vậy!

Từ trên Thập Giá, Đức Giêsu trao phó Đức Mẹ cho ông Gioan chăm sóc, và xin Đức Mẹ nhận chàng trai Gioan làm con. Nghe những lời trăn trối như vậy thì hẳn ai cũng phải động lòng. Sau đó, Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Ngài kêu: “Tôi khát!”. Nghe vậy mà người ta lại nhẫn tâm lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Ngài. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất! – Tetelestai!”. Rồi Ngài gục đầu xuống và trao Thần Khí.

Lời kêu khát của Chúa Giêsu nhắc chúng ta về niềm khát khao của Ngài dành cho chúng ta là chúng ta phải cố gắng NÊN THÁNH, nhắc nhở chúng ta yêu mến THÁNH THỂ, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta đừng làm ngơ trước những nỗi khát khao của tha nhân – nhất là đối với những CON NGƯỜI HÈN MỌN luôn ở bên chúng ta hằng ngày.

Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày đại lễ sa-bát. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh cho họ mau chết để rồi lấy xác xuống cho kịp trước khi đêm xuống. Họ đánh giập ống chân hai người cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Ngài đã chết, họ không đánh giập ống chân Ngài. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài, tức thì, MÁU cùng NƯỚC chảy ra. Tứ đó, Nguồn Suối Lòng Thương Xót tuôn chảy mãi cho đến tận thế để ai nhìn lên Ngài và thành tâm tín thác thì sẽ được hưởng Ơn Cứu Độ.

Sau đó, Đức Giêsu được hạ xác xuống khỏi Thập Giá, được đưa đi an táng theo tục lệ chôn cất của người Do-thái tại một thửa vườn. Nỗi buồn “dừng lại” nhưng vẫn âm ỉ trong lòng mọi người. Tuy nhiên, Ngày Thứ Sáu Buồn Thảm này lại chính là Ngày Thứ Sáu Tốt Lành, ngày hướng về Cõi Trường Sinh. Chúa Giêsu chịu đau khổ để chúng ta được hạnh phúc, Ngài chịu thua cuộc để chúng ta chiến thắng, Ngài chịu chết để chúng ta được sống. Chúng ta tưởng niệm cái chết của Ngài nhưng không phải là để thương xót Ngài mà là thương xót chính số phận của chúng ta, nhờ đó mà cố vượt qua chính mình hằng ngày.

Quả thật là niềm hạnh phúc vô tận đối với chúng ta – những tội nhân khốn nạn, bởi vì Thánh Phaolô đã xác định: “Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa” (2 Cr 5:19). Thứ Sáu Tuần Thánh là “cột mốc” đánh dấu lời hứa đó, như Thánh Vịnh gia đặt vấn đề: “Nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130:3). Một câu nghi vấn nhưng là một cách xác định. Thật là đại phúc cho chúng ta. Tạ ơn Chúa, Deo Gratias!

Tuy nhiên, chúng ta không được “dừng chân” ở đó, mà phải cố gắng lên tới Đỉnh Đồi Thương Xót cùng với Đức Giêsu Kitô, tức là phải chết vì yêu thương và vì thương xót. Như vậy mới khả dĩ giải nghĩa hết chữ yêu.

Lạy Thiên Chúa Cha, xin thương xót và tha thứ tội nhân con. Lạy Thiên Tử Giêsu, Đấng Cứu Thế, con cảm tạ Ngài đã chịu chết để cứu chuộc nhân loại, xin giúp con nhổ bật những chiếc đinh gỉ sét mà chính con đóng vào chân tay Ngài và đóng vào cuộc đời tha nhân. Xin Chúa ban ơn dồi dào để mọi người luôn sống đúng bổn phận của mình, và xin Ngài đặc biệt thương xót Việt Nam bé nhỏ này. Con chân thành và tha thiết cầu xin nhân danh Người Tôi Trung Đau Khổ là Đấng Cứu Thế Giêsu Kitô. Amen.

 

31. Giờ thương xót--Trầm Thiên Thu

Bửu Huyết Giêsu tươi màu Cứu Độ

Oan khiên thế giới hóa sắc trong ngần

Thứ Sáu Tuần Thánh là Ngày Đại Tang của Kitô giáo – nói riêng, và của cả nhân loại – nói chung. Thứ Sáu Tuần Thánh là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (tức 3 giờ chiều), giờ của Lòng Chúa Thương Xót. Không có Lòng Chúa Thương Xót thì nhân loại chỉ là hư vô!

Cuộc chia ly nào cũng bịn rịn, lưu luyến, đau khổ và đãm đầy nước mắt, nhất là cảnh biệt ly khi người thân về bên kia thế giới. Lúc hấp hối là “phút cuối” của một con người, là lúc xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau nhức quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội. Giây phút biệt ly thường là khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ trong chốc lát, nhưng lại nặng nề trôi… ngỡ như thăm thẳm! Và giây phút cuối đời cũng là lúc người ta nói thật nhất.

Chúa Giêsu có hai bản tính: Thần Tính và Nhân Tính (1). Về nhân tính, Ngài cũng rất đau đớn vì đã kiệt sức do đòn roi suốt đêm, vác Thập Giá lên đồi cao theo con đường gập ghềnh, ngoằn ngoèo, Ngài té lên té xuống nhiều lần, trong khi phải chịu đói chịu khát vì mất máu nhiều, Ngài còn bị những gai nhọn đâm thấu đầu, tiếp theo lại bị đinh ghim chặt chân tay, và cuối cùng bị lưỡi đòng đâm thâu tim. Rất đau đớn. Rất nhức buốt. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Thân xác Ngài tàn tạ, tiều tụy, tơi tả, đến giọt Máu và giọt Nước cuối cùng cũng chảy ra hết vì thương xót nhân loại. Chúng ta chỉ bị cái dằm đâm vào tay cũng la toáng lên rồi!

CON CHIÊN HÀM OAN

Từ ngàn xưa, qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã minh định: “Người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng” dù cho “tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa” (Is 52:13-14). Nhưng mọi người đều phải sửng sốt khi thế cờ đảo ngược hoàn toàn. Người tôi trung đó làm cho “muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng” (Is 52:15). Người tôi trung đó là Đức Kitô, cũng chính là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ, Người-Tôi-Trung-Đau-Khổ, “như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng mở miệng kêu ca” (Is 53:6; Cv 8:32).

Chúng ta đã được biết về “hành trình đau khổ” của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ khó mà cảm nhận hết mức đau khổ, thậm chí có thể nghe nhiều năm đã quen tai nên vẫn thấy… bình thường, và cũng chỉ là “chuyện nhỏ”. Kinh Thánh cũng đã nói: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được?” (Is 53:1). Thật khó tin, nhưng lại hoàn toàn là sự thật!

Ngôn sứ Isaia mô tả chi tiết: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:2-3). Tuy nhiên, “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta lại tưởng Ngài bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Thật nghịch lý, có lẽ vì chúng ta quá ảo tưởng!

Bảng đối chiếu liệt kê rõ ràng: “Chính Ngài đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, Ngài bịnghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, Ngài đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, Ngàiđã phải mang thương tích để chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Trí óc loài người không thể tưởng tượng nổi có một Con Người lạ lùng như vậy. Nếu cuộc đời có ai gần giống như vậy thì ắt chúng ta cho là “dại dột”, là “ngu xuẩn”, là “điên khùng”, là “mất trí”, là “tâm thần”. Thiên Chúa thấy “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả”, nhưng Đức Chúa đã đổ tội lỗi của tất cả chúng ta lên đầu Người-Tôi-Trung kia. Người Ấy bị lũ-người-ghen-tị “ngược đãi mà vẫn cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người Ấy chẳng hề mở miệng” (Is 53:6). Người Ấy còn “bị ức hiếp, bị buộc tội, rồi bị thủ tiêu” (Is 53:8a). Thậm chí “Người Ấy còn bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh”, và “vì tội lỗi của dân, Người Ấy bị đánh phạt” (Is 53:8b). Người Ấy chịu đủ thứ khổ hình vì các tội nhân là chúng ta, chứ Người Ấy chỉ bị hàm oan, vì Người Ấy hoàn toàn vô tội.

Cuối cùng, Người Ấy đã “bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:9). Nhưng đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy mà Ý Chúa được nên trọn. Thiên Chúa xác định: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:11). Đức Giêsu đã “hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Trong “núi tội” đó có rất nhiều tội lỗi của mỗi chúng ta!

Thánh Vịnh đã nói lời cuối của Người Ấy – một người trong cơn hấp hối: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:2 & 6). Người Ấy tâm sự với Chúa về cuộc đời mình: “Con đã nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa. Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ, con hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13). Là con người thì ai cũng cảm thấy cô đơn tột cùng khi ai cũng khinh ghét và bỏ rơi mình nên nói vậy thôi, nhưng vẫn tin tưởng vào Chúa, cho nên mới dám thân thưa: “Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con” (Tv 31:15-16).

Người Ấy chấp nhận mọi thiệt thòi và luôn vững tin cầu khấn: “Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:17), đồng thời mạnh dạn chia sẻ với những người khác như một lời khuyên: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Người Ấy đã nêu gương sáng cho chúng ta, vì chúng ta cũng phải nên giống Người Ấy: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15:18). Người Ấy là ai? Là Đức Kitô, là Thầy Giêsu, là Chúa của chúng ta.

Thánh Phaolô minh định: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa” (Dt 4:14). Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin, và giải thích: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vìNgài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, chúng ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Trong các ân sủng, Lòng Chúa Thương Xót là hồng ân cao cả và kỳ lạ vô cùng! Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng nên Ngài rất thương xót chúng ta.

Khi còn sống kiếp phàm nhân, và theo nhân tính, Đức Giêsu cũng đã từng lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính. Vâng phục không là điều dễ, vì phàm nhân chúng ta đầy tự ái và kiêu sa, ngay cả Con Thiên Chúa cũng đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:7). Thật không hề đơn giản chút nào! Nhưng chính lúc đó là lúc bản thân đạt tới mức thập toàn để rồi “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9). Trước khi vinh quang và được coi là công trạng thì luôn phải trải qua chặng đường gian khổ. Đức Kitô cũng đã trải qua “chặng đàng Thánh Giá” và cái chết mới tới sự phục sinh vinh quang.

ĐÓN NHẬN ĐAU KHỔ

Phúc Âm hôm nay là bài trường ca đau khổ, là tấn bi kịch trầm hùng, là bộ phim dài sầu thảm, Giáo hội gọi là Bài Thương Khó, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng. Thật kỳ diệu biết bao!

Chúng ta thường nói: “Dòi trong xương dòi ra”. Một trong mười hai đệ tử “ruột” là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán rẻ Thầy mình với giá quá bèo – không đáng bao nhiêu so với bình dầu cam tùng mà cô Maria (Ga 12:1-8; x. Ga 11:1-2) đã xức chân Thầy Giêsu tại Bê-ta-ni-a.

Người ta đã tìm mọi cách gài bẫy, lục soát, và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, lấy mất “chiếc ghế quyền lực”, thế nên họ làm mọi cách hạ nhục Ngài đủ mưu đủ chước. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết. Thật là tồi và hèn hạ!

Khi Ngài điềm nhiên hỏi họ tìm ai, họ ngang nhiên đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Ngài vừa nói “chính tôi đây”, họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Ấy thế mà họ vẫn cố chấp, cố ý nhắm mắt chứ không chịu mở mắt. Có lẽ lúc này Giuđa là người đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài – tức là bọn thủ ác bị mắc lừa. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài. Trí óc phàm nhân chúng ta không thể nào hiểu nổi!

Họ lồm cồm bò dậy. Ngài lại hỏi một lần nữa: “Các anh tìm ai?”. Họ vẫn cương quyết như đinh đóng cột: “Tìm Giêsu Nadarét”. Họ vẫn không hề tởn chút nào. Gan cóc tía. Lì thật! Và rồi Đức Giêsu thản nhiên nói: “Tôi đã bảo các anh là chính tôiđây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai” (Ga 18:9). Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén màChúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11). Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói.

Họ bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do Thái: “Nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18:14). Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!

Nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Đâu phải”. Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng công 3 lần trước khi gà gáy. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Đó là “biểu tượng” của chúng ta ngày nay!

Mặc dù Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ,… nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói gì, không nửa lời tự biện minh cho mình là đúng, không một lời kêu oan nào!

Đến khi bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn, Đức Giêsu mới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi?Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì” (Ga 18:19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18:22). Hỗn láo thật! Nhưng Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá!

Sau đó, ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đãchẳng đem nộp cho quan” (Ga 18:30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không nhận và nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18:36). Vậy mà ông Philatô vẫn không hiểu nên hỏi: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18:37). Ông Philatô “dốt đặc cán mai” nên ngớ ngẩn hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38).

Theo tục lệ của người Do Thái, vào mỗi dịp Lễ Vượt Qua, họ thường phóng thích cho một tội nhân. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, họ la to: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40). Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương mến và yêu quý hơn là Chúa Giêsu. Lạy Chúa tôi!

Thế là tổng trấn Philatô truyền đem Đức Giêsu đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân vị của Ngài đã bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6). Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19:6).

Một người nắm quyền trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, người đó quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác. Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Vậy người đó có đáng được tôn trọng? Người nắm quyền lực mà không tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, làm sao quốc thái dân an?

Dù ai nói ngả, nói nghiêng, nói xuôi, nói ngược, nói tới, nói lui, và họ có nói gì thì Chúa Giêsu cũng chỉ im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích, chỉ như nước đổ lá môn, không bằng nói với đầu gối. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt! Và Chúa Giêsu nói với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19:11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.

Cuối cùng, ông Philatô cũng đành cho thi hành án tử đối với “tử tội công chính” là Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập Giá lên đồi Gôngôtha, nghĩa là Cái Sọ – cũng gọi là Đồi Sọ, Can-vê, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp (2). Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19:22). Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen!

Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác quần áo của Ngài. Họ muốn chế nhạo Ngài chứ có gì đáng giá đâu! Lúc đó, Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!” (Ga 19:28). Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19:32). Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí.

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội. Sự kiện hôm nay là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “thánh lễ của mọi thánh lễ”. Vì thế, Giáo hội không cử hành thánh lễ mà chỉ có phụng vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh Giá và rước lễ.

Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, nên Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).

Một điểm khác chúng ta cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vậy, người ta làm bậy thì tôi… làm theo”. Ui da! Thật là nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó!

Giờ Thương Xót đã điểm. Người được lãnh Hồng Ân Thương Xót đầu tiên là tướng cướp Dismas, tử tội cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu: “Hôm nay, anh sẽ được ởvới tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Diễm phúc biết bao!

Hôm nay, khi tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Đức Giêsu Kitô, Giáo hội cầu nguyện cho mọi tầng lớp trong xã hội, ước gì chúng ta cũng quyết tâm thực hành lời Thánh Vịnh: “Hãy bênh quyền lợi kẻ mồ côi, người hèn mọn; minh oan cho người khốn khổ, kẻ bần cùng, giải phóng ai hèn mọn, ai nghèo túng, cứu khỏi nanh vuốt bọn ác nhân” (Tv 82:3-4). Đó là sống lòng thương xót. Chúng ta đã được Chúa Giêsu thương xót, chúng ta không thể không thương xót người khác!

Ơn Cứu Độ thật tuyệt vời: Máu Chúa đỏ tươi đã tẩy rửa tội nhân chúng ta nên trắng ngần. Xin trọn đời tạ ơn Lòng Chúa Thương Xót.

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, chúng con thật khốn nạn mà vẫn tưởng mình tốt lành hơn người khác, chúng con đã a dua và đồng lõa với cái ác màcứ tưởng mình chân chính hơn người khác. Chúng con chân thành thú nhận mọi lỗi lầm, thành tâm xin lỗi Chúa và xin lỗi tha nhân. Xin thương xót chúng con và ban cho chúng con được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Con Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của chúng con. Amen.

 

32. Bạc như vôi--P.Trần Đình Phan Tiến

Vâng, kính thưa quý vị, “ Tình đời bạc trắng như vôi “, vốn lẽ thường, hay tình đời thay trằng đổi đen, vốn bản chất “tự có ” của nhân thế là vậy sao?!

Vâng, sự bạc bẽo của thế nhân chính là những ”triết lý” mà các nhạc sĩ đã sử dụng để viết lên những ca khúc đi vào lòng người. theo đó, dường như nhân loại thật vô tình, thật thờ ơ, vô cảm dẫn đến “bạc như vôi”. Tình đời thật bạc, dường như xảy ra từng giây, từng phút trong cuộc đời.

Cũng chính vì như vậy, sự bạc bẽo của thế nhân dường như là quá quen hóa nhàm, nhưng, kỳ thực nó rất nguy hiểm, nó chính là mầm mống của “tội ác”. Sự bạc bẽo đối với cha mẹ, thầy cô, bạn bè, anh em, vợ chồng, nó chính là cái “tôi” khủng khiếp, đề tài muôn thuở, mầm mống của tội ác.

Thật vậy, hơn hai ngàn năn qua, một “Bản án bất công”, hay một “Bi kịch” đau thương vô lý của một “Con Người “ Tên là Giêsu, Nazaret, Đấng Cứu Thế làm Người, đã mang lấy.

Tứ Sáu Tuần Thánh không phải là dịp để nhắc lại sự ”thù hận” mà là để “tha thứ”. Tại sao vậy, thưa quý vị? Thưa, bởi vì là trong chính chúng ta, kể cả môn đệ thân tín, kể cả bạn hữu của Thầy Chí Thánh Giêsu là chính chúng ta đã, đang và sẽ đóng vai trò “lên án “ và giết Chúa Giêsu. Vì mỗi lần chúng ta lên án, muốn hại ai, là mỗi lần chúng ta lên án, hãm hại chính Chúa Giêsu. Vì, Người chịu bản án bất công nhất trong tư cách của một người “yếu thế” cô độc. Rõ ràng, Chúa Giêsu đã nói: “ Nước Tôi không thuộc thế gian nầy. Nếu Nước Tôi thuộc về thế gian nầy, thuộc hạ của tôi sẽ chiến đấu…” (Ga 19, 36).

Như vậy, Chúa Giêsu bị kết án bất công trong lúc yếu thế, đơn độc. Họ bày ra một tuồng kịch, nhưng, ơn Cứu Độ là một Mầu Nhiệm được hoàn tất.

Như vậy, ơn Cứu Độ là một chân lý, hay là để biểu thị chân lý từ Thiên Chúa, một chân lý tuyệt hảo chỉ được thể hiện qua ơn Cứu Độ, ơn Cứu Độ lại được biểu thị qua cuộc Tử Nạn của Người vô tội. Rõ ràng, Ơn Cứu Độ càng hiển nhiên, càng minh bạch, càng có giá trị tuyệt đối. Bởi vì, tình yêu đáp trả tình yêu. Nhưng, tình yêu đáp lại hận thù, thì giá trị cao siêu biết mấy!

Điều nầy không dễ chu toàn, nhưng, chính Đức Kitô đã thực thi. Trên Núi Sọ, cảnh Thập giá có ba, nhưng cái chết của Chúa Giêsu cho thế giới loài người biết rằng: Thiên Chúa đã minh chứng Lời của Người, Thiên Chúa đã thể hiện sự “có mặt” nơi trần gian nầy. Thiên Chúa cứu chuộc cách nhãn tiền, chứ không phải là “ẩn mặt”.

Đấng là hiện thân của “sự thật” lại thua tên cướp khét tiếng là Barabar sao?! Đại diện công lý trần gian lại thua những người “xảo trá” sao?! Công lý thế trần, môn đệ thân tín, bạn hữu của Người đâu rồi?! phải chăng một sự cô độc “duy nhất” có một không hai, mà Chúa Giêsu đã vác lấy đó sao?! Nó còn nặng trĩu và đau đớn hơn cây Thập giá và vòng gai Người chịu.

Bạc như vôi vốn dĩ tình đời, Thiên Chúa biếtt rõ, nhưng, Người đã cam tâm vác lấy. Người đời khi vui thì vỗ tay vào, khi “chẳng có lợi” thì chùi tay ra. Cùng thì “ bàn tay”, nhưng, lại ném đá, đánh đập, vả vào mặt, trói vào cột đá, đóng đinh, xé áo, đâm vào cạnh sườn. Thay vào đó, cũng bàn tay, ban ơn cứu độ, chữa lành người mù, người què được đi, kẻ bất toại lành mạnh, kẻ chết sống lại. Bàn tay bẻ bánh phân phát, trao cho môn đệ trong ngày Tiệc Ly. Cũng bàn tay ấy chữa lành đứt tai của kẻ quân dữ.

Như vậy, “Bàn Tay” Thiên Chúa và bàn tay thế nhân khác xa, một “bàn tay cứu chữa” và một “ bàn tay nhuốm máu”. Chúng ta thấy, tội lỗi nhân loại không thể dùng để xử lý bàn tay nhân loại tội lỗi, vì bàn tay tội lỗi không thể xử lý người vô tội được. Thiên Chúa không cho phép điều ấy xảy ra, bởi vì Người là chân lý. Chân lý hiện sinh ấy, Người đã trả giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh bi thương.

Chúng ta cảm nghiệm như vậy, và đặt trọn niềm tin như thế vào Đấng Cứu Độ Giêsu – Kitô.

Suy niệm Thập Gía là suy niệm cuộc khổ hình của Đức Kitô, trong đó sự cô độc, sự chịu sỉ vả, sự chịu đánh đòn, sự chịu thẩm vấn bất công, bị điệu ra trước tòa Philato, cịu sự cáo gian, chịu sự khinh miệt, chịu môn đệ bán rẻ, và chối từ, chịu đội mão gai, chịu vác thập giá, chịu đóng đinh, chịu treo lên chịu khát khao, chịu uống mật đắng, cuối cùng chịu đâm thủng cạnh sườn, để minh chứng sự sống vĩnh hằng tồn tại muôn thuở.

Chúa Giêsu “Khát” sự thật được tỏ bày, được thực thi, “Khát “ tình yêu được thể hiện, được ban tặng, ơn Cứ độ được đón nhận khắp nơi, chân lý được lan truyền và được đón nhận, qua cuộc Tử Nạn của Người. Chúa Giêsu “khát khao” ơn cứu độ của Người không uổng phí, không giới hạn. Vì, ai khát khao chân lý, thì nghe tiếng Người. Nếu không như thế, tình đời vẫn bạc như vôi, và Ơn Cứu Độ không có tác dụng gì với thế nhân.

Chúng ta suy niệm Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu trong ngày THƯƠNG KHÓ, là chúng ta soi mình vào những gương phản bội, hay chối từ, gương đánh đòn Chúa, hay gương sỉ vả Người, gương đóng đinh, hay gương đâm thủng cạnh sườn Người. Chắc chắn chúng ta không dám, hay không được phép, nhưng, chúng ta không thể không làm những hành động trên đối với Chúa Giêsu VÌ TỘI LỖI CỦA CHÚNG TA.

Bằng sự suy niệm nầy, chúng ta thật tình hết lòng ăn năn sám hối, xin Chúa thứ tha qua cuộc Thương Khó của Người, một cách sâu sắc, hầu chúng ta xứng đáng bước vào mầu nhiệm Phục Sinh của Người, nếu không chúng ta cũng bạc như vôi./. Amen.

 

33. Trao hiến vì yêu thương--Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Phụng vụ luôn dành trình thuật thương khó của Gio-an cho ngày Thứ Sáu Tuần Thánh vì bài này có một số chi tiết khác với các Phúc âm Nhất lãm. Tuy nhiên sự khác biệt lớn hơn hết có lẽ chính là giọng văn và tình cảm của một nhân chứng đã tận mắt chứng kiến biến cố trọng đại này. Chính tác giả Gio-an đã công khai tuyên bố: “Người đã xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin”.

Tất cả các chi tiết Gio-an mô tả trong bài thương khó của ông đều rất cụ thể và sống động, chẳng hạn như chi tiết “Tôi khát!” Được chính mình trải nghiệm trong giờ hấp hối, tôi thấy điều này thật cụ thể: cơn khát của một người sắp chết thật khủng khiếp. Nói gì thì nói, trong cơn khát cháy họng, hầu như cả mạng sống của một con người lệ thuộc vào vài giọt nước mát… Cụ thể và xác thực biết bao!

Nhưng trong số các chi tiết ông ghi nhận về cuộc thương khó, Gio-an đặc biệt quan tâm tới: “một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra”. Gio-an khảng định chính mắt mình đã chứng kiến cảnh tượng này, vì đó là biến cố hầu như đã thay đổi sâu xa lối suy nghĩ, và có lẽ chính cuộc sống của ông. Đó cũng là cốt lõi của sứ điệp mà ông đã dành trọn phần còn lại của đời mình để loan truyền cho mọi người: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến… chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa.” (1Ga 1,1.3) “Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng: Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian.” (1Ga 4,14)

Để trả lời cho vấn nạn: ‘sự cứu độ đó là như thế nào?’ Gio-an đã khảng định: thưa, đó là một tình yêu dâng hiến trọn vẹn, yêu tới giọt máu cuối cùng, yêu bằng cả mạng sống mình. Và đối tượng của tình yêu đó là ai? Là một người đáng yêu, người tốt lành, cao thượng chăng? Thưa, không! Gioan tiếp tục: “Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một của Người đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.” (1Ga 4,8-10) Nếu Gio-an đã từng được mệnh danh là Tông Đồ tình yêu, thì là vì ông đã được tận mắt chứng kiến cảnh tình yêu đó được biểu lộ cách huy hoàng và triệt để nhất trên thập giá, trên đó Giê-su đã đổ tới giọt máu cùng nước cuối cùng.

Phao-lô, tuy không có dịp được chiêm ngắm thập giá trực tiếp như Gio-an, nhưng tất cả những gì ông biết được về Đức Ki-tô Giê-su lại chính là ‘Đức Ki-tô Thập Giá’, mà ông luôn miệng khảng định: ‘tôi không biết một Đức Ki-tô nào khác’. Nhìn lên thập giá, Phao-lô đã nhận ra: “Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8) Riêng với bản thân, Phao-lô đã cảm nghiệm cách thâm sâu: “tôi đặt niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô, Đấng yêu thương tôi và phó nộp mình cho tôi, ngay cả khi tôi phảm nghịch cùng Người”.

Nếu thế thì chính tôi, trong tư cách một linh mục, tôi nhận thấy điều gì nơi Thập giá? Hơn cả Gio-an chỉ đứng nhìn, hàng ngày tôi cử hành Thánh Lễ. Mỗi khi uống cạn chén Máu Thánh, được trực tiếp chạm vào máu và nước từ cạnh sườn Đức Giê-su chảy ra, tôi có nhận ra tình yêu tột cùng của Thiên Chúa dành cho một tội nhân như tôi? Đối với tôi thập giá mang ý nghĩa sống còn, hay chỉ là một biểu tượng chung chung? Tôi có còn mơ ước hay khâm phục một Giê-su nào khác, một Giê-su làm phép lạ, một Giê-su ban ân huệ này nọ, một Giê-su thông thái giảng dạy, một Giê-su uy nghi đến trong vinh quang để xét xử… hơn là một Giê-su chịu đóng đinh vì yêu thương tôi? Tôi sẽ chưa phải là linh mục của Đức Ki-tô, nếu tôi chưa chịu đóng đinh, chịu hiến mình… tới giọt máu cuối cùng. Được gọi là Linh Mục của Đức Ki-tô, và hàng ngày cử hành Thánh Lễ, thực tế tôi đang là gì và làm gì?

Lạy Đấng chịu đóng đinh và phó nộp cả mạng sống mình cho con, xin làm cho con được, như Gio-an, tựa đầu vào lồng ngực đầy yêu thương, để rồi nhận ra trong đó đang thoi thóp một quả tim đã cạn kiệt tới giọt máu cuối cùng vì yêu thương con. Con cảm tạ Chúa vì hồng ân linh mục con đã được trao ban, trước hết là vì lợi ích của chính con: được diễm phúc cử hành hiến tế Thập Giá mỗi ngày. Xin cho con có cắp mắt vả cõi lòng của Gio-an. Xin soi sáng và củng cố con để có được niềm xác tín và nhận thức của Phao-lô, nhờ thế Thập giá, phải, chính thập giá chứ không gì khác, sẽ trở nên gia sản và vinh quang lớn nhất của đời con. Amen.

 

34. Tình yêu cao vời--Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Chúa Giê-su phán: “Không có tình yêu nào cao cả cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống cho bạn hữu mình” (Ga 9,13).

Đúng vậy, Ngôi Hai Thiên Chúa đã dâng hiến mạng sống Ngài cho loài người tội lỗi để cứu họ khỏi hư mất đời đời. Vì thế, tình yêu của Ngài thật cao vời khôn ví.

Chỉ vì muốn cứu chúng ta khỏi hư mất đời đời, Ngôi Hai Thiên Chúa, là Đấng cùng với Chúa Cha tạo dựng nên vũ trụ càn khôn, tạo dựng nên mọi người trên thế gian này, đã hạ mình xuống thế làm người phàm yếu đuối, mang lấy tội lỗi của nhân loại vào thân và vì thế, phải chịu khổ nạn đau thương để đền tội thay, chết thay cho chúng ta.

Chỉ vì muốn cứu chúng ta khỏi án phạt đời đời, Ngôi Hai Thiên Chúa là Vua muôn vua, là Chúa muôn loài, đã để cho con người hèn hạ lùng bắt Ngài giữa đêm đen, buộc trói Ngài lại và điệu đi như một tên gian ác.

Chỉ vì muốn đền tội cho chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa là Vị Thẩm Phán uy nghi trên cõi trời cao, là Đấng ngự trên toà tối cao phán xét cả thiên thần lẫn loài người, đã để cho những tên phàm phu tục tử, đê hèn và đốn mạt đứng ra xét xử Ngài, xỉ vả, nhiếc mắng, vung tay tát vào mặt Ngài, thậm chí khạc nhổ lên khuôn mặt cao quý thánh thiện của Ngài.

Chỉ vì muốn đền tội cho chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Tể cả vũ trụ càn khôn, là Đấng đầy quyền năng phép tắc, đã để cho con người hèn mọn lột áo Ngài ra, quất lên thân thể Ngài những ngọn roi ác nghiệt. Ôi, những lằn roi ác nghiệt làm cho máu thánh Ngài tươm ra khắp toàn thân!

Chỉ vì muốn đền tội cho chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng đầy quyền năng và sức mạnh, chỉ phán một lời đủ làm cho bão tố phải lặng yên, lại chấp nhận làm “Con Chiên” đền tội, để cho người ta đóng đinh tay chân Ngài vào Thập tự giá. Một khi chịu treo lên Thập tự giá, Ngài trở nên yếu đuối hơn cả những người yếu đuối nhất: Dù muốn xua đuổi ruồi mòng bâu vào các vết thương, chích hút máu mủ của mình, Ngài cũng không làm được.

Chỉ vì muốn cứu chuộc chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng bá chủ đất trời, là chủ nhân của mọi kho báu trong hoàn vũ, lại trở nên người nghèo thiếu hơn mọi người nghèo nhất thế gian: Chết trần, chết trụi không mảnh vải che thân.

Chỉ vì muốn cho chúng ta được sống đời đời, Ngôi Hai Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và thông ban sự sống cho các thiên thần và loài người, giờ đây chỉ còn là một xác chết, để cho người ta an táng trong mồ.

Một Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ càn khôn, một Thiên Chúa đầy quyền năng phép tắc, một Đấng trao ban sự sống cho muôn vật muôn loài… đã trở thành một thi hài im lìm bất động, không chút hơi thở, không còn sự sống, nằm im lìm trong lòng đất!

Tất cả chỉ vì để đền tội và cứu chuộc chúng ta.

Giờ đây, trước Thánh giá Chúa Giê-su, chúng ta hãy tự hỏi mình:

Chúa Cứu Thế đã hy sinh tột bậc, hy sinh tất cả, từ bỏ tất cả vì ta, chúng ta phải báo đáp thế nào cho cân xứng?

Chúng ta phải dốc lòng chừa tội là nguyên nhân gây ra cuộc khổ nạn đau thương của Chúa hay cứ tiếp tục phạm tội để Chúa phải đau khổ triền miên?

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã chịu đau khổ quá mức rồi, xin cho chúng con đừng tay lại, đừng phạm tội nữa để khỏi chất lên thân mình Chúa thêm nhiều cực hình và đau thương.

Chúa đã trả giá quá cao để cứu linh hồn chúng con khỏi tội lỗi và khỏi án phạt đời đời trong hoả ngục, xin cho chúng con quyết tâm chừa tội để khỏi làm lãng phí công trình cứu chuộc của Chúa.

mục lục

 

35. Nơi Thánh Giá, Thiên Chúa trao tình yêu--Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Nhìn lên thánh giá, suy nghĩ nông cạn và non nớt của loài người dễ cho rằng, đó là một thất bại to lớn.

Thực ra, đối với Kitô hữu, Thánh giá chính là hiện thân, là sự thành công lớn lao của một tình yêu tận cùng, một tình yêu vượt hết mọi rào cảng, vượt thắng tất cả sự tàn nhẫn và tội ác của con người. Đó là một tình yêu hạ mình, một tình yêu mà Thiên Chúa là Chúa trời đất hiến dâng chính mình để cứu lấy con người.

Thánh Gioan ghi nhận lời của Chúa Giêsu, cũng chính là ghi nhận lời của Tình Yêu không cùng ấy: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin ở Người Con ấy thì không phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3, 16).

“Yêu… đến nỗi đã ban”, cụm từ tuy đơn giản nhưng khắc họa sự lớn lao hết sức của tình yêu, đủ nói lên tất cả sức mạnh, tất cả sự tha thiết, tất cả sự mãnh liệt của một tấm lòng yêu thương.

Còn hơn cả một lòng yêu thương, bởi tình yêu của Đấng đã “Yêu… đến nỗi đã ban” ấy không phải như tình yêu con người dành cho nhau, nhưng là tình yêu của Đấng Tạo Thành dành cho thụ tạo của mình. Đó là Tình Yêu của Thiên Chúa hiến dâng cho loài người.

Và tình yêu mà Thiên Chúa đã ban, không phải là một cái gì bên ngoài Thiên Chúa, nhưng là chính bản thân Thiên Chúa, là chính Đấng phát xuất từ giữa cung lòng Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, là hiện thân khôn tả của tình yêu vô cùng mà Thiên Chúa dành cho loài người.

Vì thế, khuôn mặt thập giá của Chúa Kitô là bằng chứng hùng hồn nhất, là tiếng nói mạnh mẽ nhất, là nét bút tuyệt vời nhất, là vết khắc sâu sắc nhất về một tình yêu bền vững có một không hai trong lịch sử nhân loại, tình yêu của Thiên Chúa từ trời cao dành cho người trần thế.

Bởi vậy, cái chết của Con Người chịu đóng đinh kia, cho thấy chiến thắng của tình yêu siêu phàm. Cái chết uy hùng kia biểu dương một tình yêu mạnh hơn sự chết, có sức tiêu diệt hận thù và làm phát sinh từ trong cái chết của tội lỗi loài người một nguồn sống vô tận cho cả loài người.

Hôm nay, trong nghi thức tôn thờ Thánh Giá Chúa Giêsu, nhất là cùng nhau đến hôn kính chân tượng chịu nạn, chúng ta hãy mang hết tâm hồn đặt dưới chân Chúa để cảm tạ Người.

Trao dâng Con của mình, tức là Thiên Chúa trao tặng chính mình, trao tặng chính sự hy sinh lớn lao của bản thân để cứu độ chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa đến vô cùng, hãy cảm tạ Thiên Chúa không phải bằng lời, nhưng bằng cả cõi lòng mình. Hãy ý thức thật sâu lắng và mạnh mẽ: Chúa yêu thương ta đến nỗi không còn kể mình nữa, miễn là ta được sống. Ý thức thật nhiều, để niềm ý thức ấy trở nên nung đốt tâm tình cảm tạ trong ta thật mãnh liệt, thật dồi dào, thật trào tràn.

Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Chúng con ca tụng Tình Yêu diệu kỳ của Chúa đã làm cho chúng con được tái sinh trong sự sống. Xin cho chúng con luôn ý thức Tình Yêu mà Chúa dành cho chúng con, để chúng con sống suốt đời cho Tình Yêu của Chúa, và ngày càng xứng đáng với mối tình siêu nhiên ấy. Amen.

mục lục

 

36. Thủ phạm giết Chúa

Từ đầu Mùa Chay đến nay, cuốn phim “Cuộc Thương Khó Của Chúa Kitô” của đạo diễn Mel Gibson đã được công chiếu trên khắp nước Mỹ, rồi đến các nước ở Âu Châu và cả tại Trung Đông nữa. Cuốn phim đã ghi vào lịch sử điện ảnh là phim đắt khách nhất và đạt doanh thu kỷ lục, chỉ vì cuốn phim đã gây tranh cãi về tính cách “bài Do Thái”. Chính nhà đạo diễn Mel Gibson đã khẳng định rằng: “Bộ phim của tôi nói về đức tin, đức cậy, đức mến và sự tha thứ. Đó là nội dung sứ điệp của bộ phim. Tôi không có tinh thần bài Do Thái, tinh thần bài Do Thái không phải là tinh thần Kitô, mà là một tội lỗi”. Trả lời cho câu hỏi: “Ai đã giết chết Chúa Giêsu?”, Mel Gibson nói: “Câu trả lời chính là tất cả chúng ta đã giết chết Chúa Giêsu. Tôi là kẻ đầu tiên có phần trách nhiệm trong cái chết của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã chịu đánh đòn “vì những tội lỗi của chúng ta”. Ngài chịu thương tích vì những lỗi phạm của chúng ta, nhưng những vết thương của Ngài đã chữa lành chúng ta”.

Đó là sứ điệp chính của bộ phim. Bộ phim không nhằm quy trách nhiệm cho ai là kẻ đã giết chết Chúa Giêsu”.

Nhà đạo diễn nhìn nhận rằng bộ phim của ông có những cảnh “quá bạo lực” và ông giải thích rằng ông có ý làm như vậy để nhằm gây phản ứng nơi khán thính giả, nhằm giúp họ hiểu được tầm mức hy sinh cao cả của Chúa Giêsu. “Tôi muốn làm cho khán thính giả hiểu được rằng có một người đã chịu đựng được những hành hạ đến mức tận cùng như thế, mà vẫn còn có thể yêu thương và tha thứ. Tôi hy vọng bộ phim sẽ cổ võ suy tư, làm cho khán thính giả trở về với nội tâm, suy nghĩ về chính bản thân mình”.

Thưa anh chị em,

Khi cử hành cuộc tưởng niệm Chúa Giêsu bị trên trên Thập giá, Giáo Hội không chỉ nhắc nhớ đến một biến cố lịch sử đã xảy ra hơn 2000 năm nay, nhưng còn nhắc nhở đến trách nhiệm của mỗi người trong chúng ta về cái chết của Chúa Giêsu.

Thật vậy, dưới cái nhìn lịch sử, chúng ta lên án một Giuđa đã phản nộp Thầy, một Philatô nhát đảm, vì sợ mất chức quyền mà vội vàng kết án tử hình cho Chúa, một Phêrô hèn yếu đã chối bỏ Thầy, một đám đông vô ơn bạc nghĩa đã hò hét đòi đóng đinh Chúa, dầu biết rằng Chúa chẳng có tội gì để phải chịu một cái án quái gở đó…

Thế nhưng, cái chết của Chúa không chỉ là một biến cố lịch sử, nhưng đó còn là một Mầu nhiệm Cứu Độ, trải dài hết từ thế hệ này đến thế hệ khác. Và nó mang một chiều kích phổ quát, có giá trị cứu rỗi cho hết mọi người tin và Danh Chúa Kitô. Do đó, nó được hiện tại hoá trong mọi thời gian. Và vì thế cái chết trên Thập giá của Chúa Kitô có trách nhiệm của chúng ta.

Chúng ta đã tuyên xưng rằng: “Ngài đã chịu vì chúng ta và để cứu chuộc chúng ta”, nghĩa là vì tội lỗi của chúng ta mà Ngài phải chịu treo lên. Tội lỗi của chúng ta chính là những tiếng reo hò đòi đóng đinh, là những sự xỉ vả, là lời phản bội, là lời tuyên án Chúa.

Do đó, khi tưởng niệm cái chết của Chúa hôm nay, Giáo Hội cũng thiết tha kêu gọi các tín hữu hãy đấm ngực ăn năn, nhận phần trách nhiệm của mình, để rồi, như một Phêrô “ra ngoài ăn năn khóc lóc” có nghĩa là chúng ta phải tháo gỡ cái án tử hình của Chúa, bằng cách thay đổi nếp sống cũ, trở về với Chúa. Xa tránh những lối sống thấp hèn, trở về lối sống con cái của Chúa, và thân thưa với Chúa như anh trộm sám hối bên Thập giá của Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, khi vào Nước Chúa, xin nhớ đến con.” Amen.

mục lục

 

37. Đón nhận đau khổ

Phúc Âm hôm nay là bài trường ca đau khổ, là tấn bi kịch trầm hùng, là bộ phim dài sầu thảm, Giáo hội gọi là Bài Thương Khó, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng. Thật kỳ diệu biết bao!

Chúng ta thường nói: “Dòi trong xương dòi ra”. Một trong mười hai đệ tử “ruột” là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán rẻ Thầy mình với giá quá bèo – không đáng bao nhiêu so với bình dầu cam tùng mà cô Maria (Ga 12:1-8; x. Ga 11:1-2) đã xức chân Thầy Giêsu tại Bê-ta-ni-a.

Người ta đã tìm mọi cách gài bẫy, lục soát, và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, lấy mất “chiếc ghế quyền lực”, thế nên họ làm mọi cách hạ nhục Ngài đủ mưu đủ chước. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết. Thật là tồi và hèn hạ!

Khi Ngài điềm nhiên hỏi họ tìm ai, họ ngang nhiên đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Ngài vừa nói “chính tôi đây”, họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Ấy thế mà họ vẫn cố chấp, cố ý nhắm mắt chứ không chịu mở mắt. Có lẽ lúc này Giuđa là người đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài – tức là bọn thủ ác bị mắc lừa. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài. Trí óc phàm nhân chúng ta không thể nào hiểu nổi!

Họ lồm cồm bò dậy. Ngài lại hỏi một lần nữa: “Các anh tìm ai?”. Họ vẫn cương quyết như đinh đóng cột: “Tìm Giêsu Nadarét”. Họ vẫn không hề tởn chút nào. Gan cóc tía. Lì thật! Và rồi Đức Giêsu thản nhiên nói: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai” (Ga 18:9). Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11). Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói.

Họ bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do Thái: “Nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18:14). Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!

Nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Đâu phải”. Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng công 3 lần trước khi gà gáy. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Đó là “biểu tượng” của chúng ta ngày nay!

Mặc dù Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ,… nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói gì, không nửa lời tự biện minh cho mình là đúng, không một lời kêu oan nào!

Đến khi bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn, Đức Giêsu mới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì” (Ga 18:19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18:22). Hỗn láo thật! Nhưng Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá!

Sau đó, ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18:30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không nhận và nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18:36). Vậy mà ông Philatô vẫn không hiểu nên hỏi: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18:37). Ông Philatô “dốt đặc cán mai” nên ngớ ngẩn hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38).

Theo tục lệ của người Do Thái, vào mỗi dịp Lễ Vượt Qua, họ thường phóng thích cho một tội nhân. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, họ la to: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40). Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương mến và yêu quý hơn là Chúa Giêsu. Lạy Chúa tôi!

Thế là tổng trấn Philatô truyền đem Đức Giêsu đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân vị của Ngài đã bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6). Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19:6).

Một người nắm quyền trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, người đó quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác. Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Vậy người đó có đáng được tôn trọng? Người nắm quyền lực mà không tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, làm sao quốc thái dân an?

Dù ai nói ngả, nói nghiêng, nói xuôi, nói ngược, nói tới, nói lui, và họ có nói gì thì Chúa Giêsu cũng chỉ im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích, chỉ như nước đổ lá môn, không bằng nói với đầu gối. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt! Và Chúa Giêsu nói với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19:11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.

Cuối cùng, ông Philatô cũng đành cho thi hành án tử đối với “tử tội công chính” là Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập Giá lên đồi Gôngôtha, nghĩa là Cái Sọ – cũng gọi là Đồi Sọ, Can-vê, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp (2). Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19:22). Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen!

Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác quần áo của Ngài. Họ muốn chế nhạo Ngài chứ có gì đáng giá đâu! Lúc đó, Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!” (Ga 19:28). Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19:32). Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí.

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội. Sự kiện hôm nay là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “thánh lễ của mọi thánh lễ”. Vì thế, Giáo hội không cử hành thánh lễ mà chỉ có phụng vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh Giá và rước lễ.

Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, nên Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).

Một điểm khác chúng ta cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vậy, người ta làm bậy thì tôi… làm theo”. Ui da! Thật là nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó!

Giờ Thương Xót đã điểm. Người được lãnh Hồng Ân Thương Xót đầu tiên là tướng cướp Dismas, tử tội cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Diễm phúc biết bao!

Hôm nay, khi tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Đức Giêsu Kitô, Giáo hội cầu nguyện cho mọi tầng lớp trong xã hội, ước gì chúng ta cũng quyết tâm thực hành lời Thánh Vịnh: “Hãy bênh quyền lợi kẻ mồ côi, người hèn mọn; minh oan cho người khốn khổ, kẻ bần cùng, giải phóng ai hèn mọn, ai nghèo túng, cứu khỏi nanh vuốt bọn ác nhân” (Tv 82:3-4). Đó là sống lòng thương xót. Chúng ta đã được Chúa Giêsu thương xót, chúng ta không thể không thương xót người khác!

Ơn Cứu Độ thật tuyệt vời: Máu Chúa đỏ tươi đã tẩy rửa tội nhân chúng ta nên trắng ngần. Xin trọn đời tạ ơn Lòng Chúa Thương Xót.

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, chúng con thật khốn nạn mà vẫn tưởng mình tốt lành hơn người khác, chúng con đã a dua và đồng lõa với cái ác mà cứ tưởng mình chân chính hơn người khác. Chúng con chân thành thú nhận mọi lỗi lầm, thành tâm xin lỗi Chúa và xin lỗi tha nhân. Xin thương xót chúng con và ban cho chúng con được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Con Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của chúng con. Amen.

 mục lục

 

38. Người tôi tớ--Huệ Minh

Hôm nay toàn thể Giáo Hội tưởng niệm việc Chúa Giêsu chịu chết. Việc tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu không phải là ôn lại một kỷ niệm trong quá khứ, nhưng để chiêm ngắm việc Người chịu chết để ta khám phá ra Tình Vô tận mà Thiên Chúa dành cho nhân loại. Cái chết của Chúa Giêsu không phải như cái chết của một ông vua, một nhà lãnh tụ của quốc gia, của một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử của loài người. Cái chết Chúa Giêsu là cái chết của Người Con Một, Người Con Duy Nhất của Thiên Chúa.

Giáo hội như muốn mời gọi chúng ta đi vào thinh lặng, từ các trang trí cho đến những bài ca phụng vụ, tất cả đều đưa chúng ta vào cõi thinh lặng. Thinh lặng để nhìn ngắm Chúa Giêsu trên Thập Giá, thinh lặng để lắng nghe tiếng nói từ Thập Giá. Thập Giá vẫn mãi mãi là một mầu nhiệm. Tại sao điều đó có thể xảy ra cho Thiên Chúa? Tại sao Con Một Thiên Chúa lại có thể chịu chết treo trên Thập Giá?

Cái chết của Chúa Giêsu mang nhiều ý nghĩa: Đó là cái chết được báo trước: “Con Người sẽ bị nộp cho các Thượng tế và Kinh sĩ. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, sẽ đánh đòn và giết chết Người.” (Mc 10, 33-34). Đó là cái chết vì yêu mến Chúa Cha, để vâng phục thánh ý Chúa Cha.

Chúa Giêsu chịu chết để tiêu diệt thần chết là ma quỷ và sự dữ.

Chúa Giêsu chịu chết vì tội lỗi của nhân loại, vì yêu thương và muốn cứu chuộc nhân loại. Nhờ sự chết của Chúa, loài người được giao hòa với Thiên Chúa. Nhờ sự chết của Chúa, con người được sống và được tham dự vào sự phục sinh của Người. Thật vậy, Chúa chịu chết để cho con người được hưởng vinh quang trong Nước Trời.

Cho dù có phải hy sinh, tủi nhục, đau khổ, bị bỏ rơi, Chúa vẫn sẵn sàng đi trọn con đường đau thương, vẫn trung thành vác thập giá và nhất là phải chết trên thập giá.

Trên thập giá, Chúa Giêsu trở nên “Chiên Thiên Chúa đến gánh tội trần gian” (Ga 1,29), mang lấy tội lỗi nhân loại nơi thân mình Người. “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Cr 5,21)

Thiên Chúa đã chết vì tội chúng ta. Thiên Chúa đã phải trả giá quá đắt để cứu loài người khỏi chết. Thiên Chúa đã yêu thương thế gian như thế đó! Vậy mà tôi vẫn vô tâm!

Về cuộc tử nạn và cái chết của Chúa Giêsu, thiết tưởng chúng ta chỉ nên giữ thinh lặng. Trong thinh lặng, chúng ta mới cảm nhận được cái nhìn yêu thương trìu mến của Chúa Giêsu. Và trong cái nhìn ấy chúng ta mới nghe được chính tiếng nói của Ngài. Chỉ có kẻ đau khổ mới có thể đưa chúng ta vào nỗi khổ đau của họ. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể đưa chúng ta vào những nỗi khổ đau của Ngài. Sự thinh lặng đưa chúng ta vào mầu nhiệm của khổ đau.

Trong hai người cùng chịu treo trên Thập Giá bên cạnh Chúa Giêsu, một người đã không ngừng lên tiếng kêu gào rửa xả, trong khi đó kẻ được mệnh danh là trộm lành chỉ biết thốt lên lời van xin cứu vớt. Ðối với chúng ta, điều đó thật là phải lẽ, xứng với tội lỗi chúng ta. Kẻ trộm lành quả thực đã đi sâu vào mầu nhiệm của Thập Giá, ông đã nhận ra thân phận tội lỗi của mình.

Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá trước tiên là một bày tỏ về bộ mặt tội lỗi của nhân loại. Mãi mãi Thập Giá vẫn là biểu trưng của sự độc ác của con người. Ðó là đỉnh cao trí tuệ của con người trong việc sáng chế ra những phương thế để hành hạ nhau, để loại trừ nhau, để chém giết nhau. Ðó là bản án của tội lỗi nhân loại trải qua mọi thời đại.

Nhìn lên Thập Giá Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta chỉ có thể đấm ngực ăn năn về chính tội lỗi của mình mà thôi. Thập Giá của Chúa Giêsu vẫn luôn có đó để chiếu rọi vào thân phận tội lỗi của con người. Thập Giá không chỉ là mạc khải về tội lỗi của con người, nhưng tội lỗi còn là mặt trái của một nguồn ánh sáng vô biên.

Ðó là ánh sáng của tình yêu. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá là biểu tỏ của một tình yêu tha thứ cho đến cùng. Có lẽ người trộm lành đã hiểu được điều đó khi ông quay nhìn sang Chúa Giêsu trên Thập Giá. Trong ánh mắt của Chúa Giêsu, người trộm lành chỉ có thể thấy bừng lên tình yêu nhân từ và tha thứ khi được tình yêu Chúa Giêsu chiếu dọi vào. Bên cạnh Chúa Giêsu, người trộm lành được ôm ấp với cái nhìn trìu mến và tha thứ của Ngài.

Ta còn được mời gọi nhìn thấy chính cây giá gỗ, trên đó Đức Giêsu chịu đóng đinh như là một dụng cụ nhục hình và tử hình. Thập giá là hình phạt tiêu biểu mà Lề Luật dành cho người phạm trọng tội. Vì thế, Thập Giá là biểu tượng cho công lí của con người.

Ấy vậy mà, người chịu đóng đinh là chính Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vô tội, Đấng công chính hoàn hảo; vì thế, sự công chính của con người chỉ là giả tạo, gian dối và chỉ có vẻ bề ngoài.

Nơi Thập Giá, Đức Kitô muốn giải thoát ta một cách chính xác khỏi sự công chính giả tạo nhân danh Lề Luật, sự công chính bề ngoài đến từ chính chúng ta, để trao ban cho chúng ta sự công chính của chính Ngài, sự công chính đích thật của con Thiên Chúa.

Nơi Thập Giá, Đức Kitô mang vào mình mọi “bệnh hoạn tật nguyền” của chúng ta, để làm cho chúng ta trở nên lành mạnh, nên công chính cách nhưng không, như bài ca về “Người Tôi Tớ Đau Khổ” đã loan báo. Vì thế, trên tất cả, nơi thập giá của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhìn ra trong tín thác và bình an thẳm sâu “Khuôn Mặt đích thật” của chính Thiên Chúa.

Và rồi khi khám phá ra khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, ta thấy một Tình Yêu vô tận đã yêu thương ta. Nhận ra như vậy, ta lại sống như thế nào đó cho xứng đáng với sự hy sinh tột cùng của Tình Yêu vô tận đó.

mục lục